Cứ mỗi 5 phút, có 10 trẻ em trên thế giới sinh ra bị bệnh tim bẩm sinh, tương đương với 1,3 triệu trẻ em mắc bệnh mỗi năm. Điều trị bệnh tim bẩm sinh có thể giúp chữa khỏi bệnh, tuy nhiên với những thể bệnh nặng, các phương pháp điều trị hỗ trợ chỉ là giải pháp tạm thời giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân.

ThS.BS Vũ Quốc Anh Thy, Trung tâm tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, bệnh tim bẩm sinh có thể chữa khỏi và cải thiện tình trạng bệnh hiệu quả bằng nhiều phương pháp. Tuy nhiên, một số dị tật tim bẩm sinh nặng không thể chữa khỏi hoàn toàn được mà chỉ có thể điều trị giúp giảm triệu chứng nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho người bệnh.
Bệnh tim bẩm sinh là những bất thường về tim, được hình thành khi còn trong bụng mẹ và tồn tại cho đến khi trẻ chào đời. Bệnh có thể được chẩn đoán sớm thông qua siêu âm tim thai ở tuần thứ 18-24 của thai kỳ, thậm chí từ tuần 16-17. Thông qua đó, bác sĩ có thể theo dõi sát sự phát triển của tim thai và có sự chuẩn bị tốt để điều trị hỗ trợ cho trẻ sau khi chào đời.
Một số dị tật tim bẩm sinh phổ biến như: thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch, hẹp van động mạch chủ, hẹp van động mạch phổi, tứ chứng Fallot, chuyển vị đại động mạch, van động mạch chủ hai mảnh, kênh nhĩ thất, thiểu sản cung động mạch chủ…
Bệnh tim bẩm sinh là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Khoảng 25% trẻ em sinh ra mắc bệnh tim bẩm sinh cần được phẫu thuật tim hoặc các biện pháp can thiệp khác. Hiện nay, có hơn 85% trẻ sinh ra mắc bệnh có thể sống ít nhất đến 18 tuổi. Tuy nhiên, nếu trẻ mắc dị tật tim bẩm sinh nặng như tứ chứng Fallot sẽ ít có khả năng sống đến tuổi trường thành.
Trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh mặc dù đã được điều trị, nhưng vẫn phải đối mặt với nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe suốt đời như chậm tăng trưởng, ăn uống kém, chậm phát triển, giảm khả năng hoạt động thể chất, các vấn đề về nhịp tim, suy tim, ngừng tim đột ngột, đột quỵ, các vấn đề về hô hấp, suy thận, co giật, các vấn đề về sức khỏe tâm thần và tăng nguy cơ ung thư.

Bệnh tim bẩm sinh nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng:
Khi lượng máu dồn về phổi quá nhiều làm tăng áp lực trong hệ mạch máu phổi, thường gặp trong các dị tật tim bẩm sinh có luồng thông trái – phải như thông liên nhĩ, thông liên thất lớn. Áp lực động mạch phổi tăng cao mạn tính khiến cấu trúc của thành mạch máu phổi dày lên và hẹp dần, dẫn đến tăng sức cản mạch máu phổi, khiến tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu qua phổi.
>>> Xem thêm: Thông liên thất quanh phần màng có nguy hiểm không?
Trẻ mắc dị tật tim bẩm sinh khi không được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ khiến tim bị quá tải trong thời gian dài, lâu dần dẫn đến suy tim, không còn khả năng co bóp hiệu quả để bơm đủ máu nuôi cơ thể. Người bệnh suy tim sẽ xuất hiện các triệu chứng như khó thở, phù chân, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, mệt mỏi và giảm khả năng vận động.
Dị tật tim bẩm sinh có thể dẫn đến biến chứng loạn nhịp tim, tim đập không đều, quá nhanh hoặc quá chậm. Các dạng rối loạn nhịp nguy hiểm như rung nhĩ, cuồng nhĩ, nhịp nhanh thất có thể gây huyết khối và thuyên tắc mạch máu não, dẫn đến đột quỵ hoặc tử vong đột ngột nếu không được can thiệp y tế kịp thời.
Là tình trạng vi khuẩn theo đường máu xâm nhập vào tim, tạo thành các đám sùi và dần dần phá hủy cấu trúc van tim. Những mảnh vụn của đám sùi có thể bong ra theo dòng máu, gây tắc nghẽn mạch máu ở các cơ quan khác như não, phổi, thận.

Điều trị bệnh tim bẩm sinh đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa và cần được thực hiện càng sớm càng tốt để đạt hiệu quả tối ưu. Tùy theo loại dị tật, mức độ nặng nhẹ và tình trạng của trẻ, bác sĩ sẽ lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau.
Các loại thuốc thường được chỉ định cho bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh như thuốc chống đông máu, thuốc kiểm soát suy tim, thuốc ổn định nhịp tim… Trong quá trình điều trị nội khoa, người bệnh cần được theo dõi chặt chẽ và điều chỉnh liều phù hợp nếu cần để đạt hiệu quả tối ưu đồng thời giảm thiểu tác dụng phụ.
Prostaglandin E1 được sử dụng để giữ ống động mạch thông suốt, giúp cung cấp lưu thông máu cần thiết cho trẻ bị tổn thương tim phụ thuộc ống động mạch.
Can thiệp qua da là phương pháp điều trị ít xâm lấn, bác sĩ sẽ đưa ống thông (catheter) và dụng cụ đặc biệt vào tim qua đường mạch máu. Ống thông được luồn từ động mạch đùi lên đến tim, sau đó bác sĩ có thể thực hiện các thủ thuật như nong van tim bị hẹp, bít các lỗ thông bất thường hoặc đặt stent.
Ưu điểm của thủ thuật này là bác sĩ không cần phải phẫu thuật mở lồng ngực, giúp giảm nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, vết tiêm chích nhỏ có tính thẩm mỹ cao và thời gian hồi phục được rút ngắn hơn so với phẫu thuật tim truyền thống.

Những trường hợp bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh không thể điều trị bằng can thiệp qua da, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật mổ tim hở. Phẫu thuật thường được thực hiện dưới gây mê toàn thân và sử dụng máy tim phổi nhân tạo để duy trì tuần hoàn trong quá trình mổ. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật thường kéo dài từ 7-14 ngày tùy vào thể trạng của người bệnh. Đồng thời, người bệnh cần được theo dõi, chăm sóc đặc biệt trong giai đoạn hậu phẫu.

Trước khi lên kế hoạch điều trị cho bệnh tim bẩm sinh, bác sĩ sẽ xem xét cẩn thận nhiều yếu tố để đưa ra phương pháp phù hợp và an toàn cho từng bệnh nhân bao gồm:
Sau khi phẫu thuật điều trị bệnh tim bẩm sinh, người bệnh cần được chăm sóc tốt và theo dõi sát sao. Áp dụng các biện pháp chăm sóc y tế sau phẫu thuật kết hợp với thăm khám định kỳ có thể giúp nâng cao chất lượng đời sống cho người bệnh.

Hầu hết trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh thuộc nhóm điều trị được, có thể sống cuộc sống gần như bình thường sau khi được điều trị đúng cách và kịp thời. Tuy nhiên, trẻ vẫn cần được được theo dõi và chăm sóc suốt đời. Đồng thời, cần chú ý tránh những hoạt động thể chất mạnh và dùng thuốc lâu dài theo chỉ định của bác sĩ.
Trẻ mắc tim bẩm sinh thuộc nhóm tim bẩm sinh phức tạp, tim một thất sẽ có chất lượng sống và thời gian sống bị ảnh hưởng tùy từng trường hợp cụ thể.
Quyết định phẫu thuật điều trị bệnh tim bẩm sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại dị tật tim, mức độ bệnh, tình trạng thể chất của người bệnh. Một số trường hợp trẻ mắc dị tật tim bẩm sinh nặng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuần hoàn máu và có nguy cơ đe dọa tính mạng cần phẫu thuật ngay sau sinh. Trong khi đó, trẻ mắc những dị tật tim bẩm sinh nhẹ hơn có thể theo dõi và lựa chọn thời điểm phẫu thuật thích hợp khi trẻ lớn hơn và có thể trạng tốt hơn.
Phẫu thuật/thủ thuật điều trị bệnh tim bẩm sinh được thực hiện dưới gây mê hoặc gây tê, nên người bệnh không cảm thấy đau trong quá trình can thiệp. Sau phẫu thuật, người bệnh có thể cảm thấy khó chịu và đau nhẹ tại vết mổ nhưng sẽ được kiểm soát bằng thuốc giảm đau. Thời gian hồi phục và mức độ đau sau điều trị phụ thuộc vào phương pháp can thiệp và đáp ứng của từng người bệnh.
Bệnh tim bẩm sinh có thể di truyền hoặc do người mẹ bị nhiễm virus, sử dụng rượu bia, tiếp xúc hóa chất trong thời kỳ mang thai. Vì vậy, gia đình có người mắc bệnh tim bẩm sinh nên đến gặp bác sĩ di truyền để được tư vấn về nguy cơ di truyền cho thế hệ sau.
Nhiều dị tật tim bẩm sinh có thể được phát hiện thông qua siêu âm tim thai ở tuần thứ 18-24 của thai kỳ. Chẩn đoán sớm sẽ giúp bác sĩ có sự chuẩn bị tốt, lên kế hoạch theo dõi và điều trị phù hợp ngay sau khi trẻ chào đời. Tuy nhiên, một số dị tật nhỏ có thể không phát hiện được qua siêu âm trước sinh và chỉ được phát hiện sau khi trẻ sinh ra.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Các phương pháp điều trị bệnh tim bẩm sinh như can thiệp qua da hoặc phẫu thuật tim có thể giúp chữa khỏi nhiều dị tật tim bẩm sinh, giúp trẻ có thể phát triển khỏe mạnh gần như những trẻ khác. Tuy nhiên, sau khi điều trị, trẻ vẫn cần được theo dõi, tái khám theo định kỳ và được chăm sóc đúng cách.