Huyết khối tĩnh mạch sâu có thể xảy ra ở bất kỳ người nào, bất kỳ độ tuổi nào. Đây là một tình trạng nghiêm trọng cần được điều trị ngay lập tức. Thông tin bài viết dưới đây sẽ giúp bạn biết được đâu là nguyên nhân gây huyết khối tĩnh mạch sâu và các triệu chứng điển hình của bệnh là gì?

Huyết khối tĩnh mạch sâu (Deep Vein Thrombosis – DVT) là tình trạng cục máu đông (huyết khối) xuất hiện ở một hoặc nhiều tĩnh mạch sâu trong cơ thể. Cục máu đông có thể chặn một phần hoặc làm tắc hoàn toàn dòng máu đi trong tĩnh mạch. Tĩnh mạch có tác dụng đưa máu từ ngoại biên (phần xa của cơ thể) trở về trung tâm (về tim).
Bất cứ tĩnh mạch nào trong cơ thể cũng có thể xuất hiện huyết khối, nhưng hầu hết huyết khối tĩnh mạch sâu thường xảy ra ở cẳng chân, đùi hoặc vùng chậu. Một số bộ phận khác có thể bị huyết khối tĩnh mạch sâu như cánh tay, não, ruột, gan hoặc thận… (1)
Huyết khối tĩnh mạch sâu khá phổ biến, xuất hiện ở 3%-11% trong dân số theo các báo cáo. Có khoảng 1-3 trong số 1.000 người Mỹ trưởng thành xuất hiện huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi mỗi năm, và có tới 300.000 người tử vong mỗi năm do bệnh lý này. Huyết khối tĩnh mạch sâu là bệnh mạch máu phổ biến thứ ba, sau nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Tình trạng cấp tính có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, chủ yếu gặp nhiều ở những người trên 60 tuổi. (2)
Các yếu tố nguy cơ cao thường gây ra huyết khối tĩnh mạch sâu như nằm bất động lâu dài, sau phẫu thuật, mắc ung thư và bệnh huyết khối do di truyền hoặc mắc phải. Huyết khối tĩnh mạch sâu phổ biến ở người bệnh nằm viện do trong thời gian này, người bệnh thường chỉ nằm trên giường, ít di chuyển, vận động.
Tĩnh mạch sâu là các tĩnh mạch nằm trong và dưới lớp cơ (gần xương) và thường đi cùng với động mạch và thần kinh. Còn tĩnh mạch nông nằm ở ngoài cơ, gần da hơn.
Huyết khối tĩnh mạch sâu xảy ra ở bất kỳ tĩnh mạch sâu nào trong cơ thể và có nguy cơ di chuyển cục máu đông theo dòng máu về tim đi đến phổi, gây thuyên tắc phổi, nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Những người bệnh có luồng thông trái phải như tồn tại lỗ bầu dục, hay thông liên nhĩ sẽ có nguy cơ bị huyết khối gây thuyên tắc động mạch bất kỳ nguy hiểm không kém.
Trong khi đó, huyết khối tĩnh mạch hoặc viêm tắc tĩnh mạch nông, là khi cục máu đông phát triển trong tĩnh mạch gần bề mặt da. Cục máu đông ở tĩnh mạch nông hiếm khi di chuyển đến phổi, nên ít nguy hiểm hơn huyết khối tĩnh mạch sâu.
Thông qua khám thực thể, bác sĩ cũng có thể dễ dàng chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nông. Đối với huyết khối tĩnh mạch sâu, cần siêu âm hoặc chỉ định thêm một số phương pháp cận lâm sàng khác để có kết quả chẩn đoán chính xác. Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp nào, siêu âm tĩnh mạch vẫn là lựa chọn ưu tiên vì chi phí hợp lý, tiện dụng, dễ thực hiện nhưng cho thông tin chính xác như huyết khối mới hay cũ, đã lan đến đâu, để có cái nhìn chính xác về nó.
Huyết khối tĩnh mạch sâu có thể xảy ra ở bất kỳ tĩnh mạch sâu nào trong cơ thể. Tuy nhiên, các vị trí thường gặp nhất là:

Nguyên nhân chính gây huyết khối tĩnh mạch sâu là tổn thương tĩnh mạch, có thể do nhiễm trùng hoặc chấn thương, tình trạng viêm của cơ thể hay sau phẫu thuật. Bên cạnh đó, có nhiều yếu tố nguy cơ khác góp phần làm tăng nguy cơ xuất hiện huyết khối tĩnh mạch sâu. Người có càng có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng mắc huyết khối tĩnh mạch sâu càng cao.
Các yếu tố nguy cơ gây tăng tỉ lệ mắc huyết khối tĩnh mạch sâu bao gồm:
Đôi khi, cục máu đông trong tĩnh mạch có thể xảy ra mà không có yếu tố nguy cơ nào được xác định gọi là thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch vô căn (VTE).
Huyết khối tĩnh mạch sâu thường hình thành trong tĩnh mạch ở chân hoặc tay. Có tới 30% các trường hợp bị huyết khối tĩnh mạch sâu không có triệu chứng hoặc có nhưng các triệu chứng rất nhẹ, người bệnh ít chú ý đến.
Những triệu chứng điển hình của huyết khối tĩnh mạch sâu bao gồm:
Một số người không biết mình bị huyết khối tĩnh mạch sâu cho đến khi cục máu đông di chuyển từ chân hoặc tay và đi đến phổi gây thuyên tắc phổi. Khi đó, người bệnh có thể gặp các triệu chứng nguy kịch như đau ngực dữ dội, khó thở, ho ra máu, choáng váng và ngất.
Mặc dù bản thân huyết khối tĩnh mạch sâu không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng cục máu đông có thể bị vỡ ra và di chuyển theo dòng máu về tim. Nếu cục máu đông di chuyển đến các mạch máu trong phổi và gây tắc nghẽn động mạch phổi, sẽ gây ra tình trạng thuyên tắc phổi (Pulmonary embolism).
Đây là biến chứng thường gặp kèm theo huyết khối tĩnh mạch sâu nếu không được phát hiện sớm và gây ra tỷ lệ tử vong khá cao nếu không được điều trị kịp thời. Do đó, khi nhận thấy các triệu chứng nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi, cần nhanh chóng đến bệnh viện thăm khám, chẩn đoán và điều trị ngay.
Khoảng 1/2 các trường hợp bị huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân có triệu chứng đau và sưng chân từng đợt, cơn đau có thể kéo dài hàng tháng đến hàng năm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đời sống của người bệnh.

Huyết khối tĩnh mạch sâu nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó nguy hiểm nhất là gây thuyên tắc động mạch phổi (Pulmonary embolism), nguy cơ đe dọa đến tính mạng người bệnh.
Suy giãn tĩnh mạch mãn tính là tình trạng các tĩnh mạch giảm khả năng dẫn máu trở về tim do suy chức năng các van tĩnh mạch thuộc hệ tĩnh mạch nông và/hoặc tĩnh mạch sâu. Theo thời gian, tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính diễn tiến thầm lặng và dần gây ra triệu chứng đau, chuột rút, tê bì, phù và làm thay đổi màu sắc ở chân. Lâu ngày nếu không được điều trị đúng cách, có khả năng diễn tiến đến loét chân lâu lành.
Hội chứng hậu huyết khối xảy ra sau khi người bệnh đã từng bị huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân nhưng không được điều trị hoặc điều trị bệnh không đúng cách. Tình trạng này có thể khiến người bệnh gặp các triệu chứng như đau chân, sưng chân, thay đổi màu da và lở loét trên da.
Thuyên tắc xảy ra khi cục huyết khối bong ra và di chuyển trong mạch máu, sau đó mắc kẹt ở nơi lòng mạch có kích thước nhỏ hơn. Bệnh thường xảy ra nhất ở chi dưới, có thể ảnh hưởng đến các chi trên. Bệnh có biểu hiện lâm sàng dưới hai bệnh cảnh: huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi. Khoảng 1/3 bệnh nhân bị thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có triệu chứng biểu hiện tắc mạch phổi, 2/3 biểu hiện huyết khối tĩnh mạch sâu.
Thuyên tắc động mạch phổi là tình trạng cần được cấp cứu y tế ngay lập tức. Nguyên nhân là do cục máu đông ở tĩnh mạch chân hoặc tay bị vỡ ra, trôi theo dòng máu và đi đến động mạch phổi. Cục máu đông có thể bị mắc lại ở động mạch phổi hoặc tiếp tục di chuyển vào phổi gây thuyên tắc phổi.
Tùy vào kích thước của cục máu đông và số lượng mạch máu bị ảnh hưởng, người bệnh có thể gặp các triệu chứng khác nhau. Một số triệu chứng thường gặp do thuyên tắc phổi gây ra như: khó thở đột ngột, đau ngực dữ dội khi hít vào, ho hoặc ho ra máu, nhịp tim nhanh, choáng váng, ngất xỉu.
Để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu, trước tiên bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng, hỏi về các triệu chứng và tiền sử của người bệnh. Sau đó chỉ định làm các xét nghiệm cận lâm sàng để có kết quả chẩn đoán chính xác.
Siêu âm Doppler tĩnh mạch là xét nghiệm phổ biến và tiện lợi nhất để chẩn đoán nhanh huyết khối tĩnh mạch sâu vì đây là phương pháp không xâm lấn và được áp dụng rộng rãi. Phương pháp này sử dụng sóng siêu âm để đánh giá lưu lượng máu và cục máu đông trong tĩnh mạch.
Bác sĩ siêu âm đè vào tĩnh mạch mà tĩnh mạch không xẹp nghĩa là có cục máu đông, nếu đè xẹp hoàn toàn chứng tỏ tĩnh mạch bình thường. Nếu kết quả siêu âm không rõ ràng, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện các xét nghiệm hình ảnh khác để đưa ra chẩn đoán chính xác.
Chụp MRI giúp bác sĩ nhìn thấy rõ hình ảnh các cơ quan và cấu trúc bên trong cơ thể. MRI thường được chỉ định trong chẩn đoán các bệnh lý về thần kinh, tim mạch và các cơ quan khác. Đây là một trong những phương pháp chẩn đoán bệnh chuyên sâu có nhiều ưu điểm vượt trội, giúp bác sĩ nghiên cứu, quan sát đặc điểm bên trong cơ thể con người theo cách không xâm lấn. Đặc biệt các trường hợp nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch vùng chậu.

Chụp CT cung cấp hình ảnh ba chiều, giúp bác sĩ có cái nhìn chi tiết và rõ ràng hơn về các cơ quan bên trong cơ thể. Kỹ thuật này có thể được chỉ định để khảo sát các bộ phận trên cơ thể hoặc chụp toàn bộ cơ thể. Kết quả chụp CT có thể giúp bác sĩ xác định vị trí, kích thước, đặc điểm của các tình trạng bệnh liên quan như khối u, sự chảy máu, chấn thương, nhiễm trùng và nhiều tình trạng y tế khác. Trong thuyên tắc động mạch phổi, chụp CT có hiệu quả chẩn đoán cao.
Chụp tĩnh mạch xóa nền là phương pháp chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu xâm lấn. Bác sĩ sẽ làm tê da cổ hoặc háng người bệnh và sử dụng ống thông để tiêm chất tương phản vào tĩnh mạch. Thông qua đó, có thể biết được có cục máu đông nào chặn một phần hoặc hoàn toàn lưu lượng máu bên trong tĩnh mạch hay không.
Cùng lúc đó, có thể sử dụng các thiết bị để hút hoặc làm tiêu cục máu đông, giúp tái thông một phần hoặc hoàn toàn lòng động mạch. Chụp và can thiệp tĩnh mạch đang được ứng dụng rộng rãi trong điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu, giảm thiểu nguy cơ biến chứng lâu dài về sau.
Mục tiêu của việc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu là ngăn ngừa cục huyết khối lan rộng và lớn hơn, ngăn ngừa huyết khối lớn vỡ ra và di chuyển đến phổi. Đồng thời, giảm nguy cơ xuất hiện hội chứng hậu huyết khối và giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu trong tương lai. Các phương pháp điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu bao gồm:
Để phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu, bạn có thể giảm nguy cơ hình thành cục máu đông bằng cách:
Hiện nay, huyết khối – Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là địa chỉ được nhiều người lựa chọn đến thăm khám và điều trị huyết khối tĩnh mạch cũng như các bệnh khác về tim mạch, lồng ngực. Trung tâm có đội ngũ chuyên gia, bác sĩ giàu kinh nghiệm, hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại giúp chẩn đoán nhanh, chính xác và hỗ trợ điều trị hiệu quả cho người bệnh.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Huyết khối tĩnh mạch sâu nếu không được điều trị sớm và đúng cách, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí đe dọa đến tính mạng người bệnh. Do đó, khi có các dấu hiệu nghi ngờ bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu, bạn cần nhanh chóng đi khám chuyên khoa Tim mạch để được điều trị thích hợp.