Với người bệnh ung thư giai đoạn tiến triển, mục tiêu điều trị không còn là chữa khỏi hoàn toàn mà nhằm giảm các triệu chứng và cải thiện chất lượng sống. Lúc này, xạ trị giảm nhẹ được bác sĩ cân nhắc lựa chọn. Vậy chỉ định này được đưa ra khi nào? Các kỹ thuật xạ trị nào được ứng dụng để chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh?
Dưới đây là các thông tin được BS.CKII Nguyễn Thế Hiển, Trưởng khoa Xạ trị, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM chia sẻ.

Xạ trị giảm nhẹ là phương pháp sử dụng tia bức xạ ion hóa nhằm giúp giảm triệu chứng (cảm giác đau, khó thở, ho,…), cải thiện chất lượng sống cho người bệnh ung thư giai đoạn tiến xa hoặc di căn, thay vì mục tiêu chữa khỏi hoàn toàn. Liều xạ trong trường hợp này thường thấp hơn, ít buổi hơn so với xạ trị triệt căn, nhờ đó làm giảm nhanh triệu chứng trong thời gian ngắn và hạn chế tác dụng phụ.
Xạ trị giảm nhẹ là một phần trong chăm sóc giảm nhẹ toàn diện, thường được phối hợp với các phương pháp khác như dùng thuốc giảm đau, thuốc corticoid, chăm sóc tâm lý,… để đạt hiệu quả tối ưu.
Phương pháp này có các ưu và nhược điểm sau:
Mục tiêu chính của xạ trị giảm nhẹ là kiểm soát các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh, không phải chữa khỏi ung thư. Cụ thể:
Phương pháp này rất quan trọng với người bệnh ung thư giai đoạn tiến triển hoặc không thể phẫu thuật, giúp họ giảm những khó chịu về thể chất và lo lắng về tinh thần.

Vai trò chính của phương pháp này vẫn là kiểm soát các triệu chứng, mang lại sự thoải mái, cải thiện cuộc sống cho người bệnh: (1)
Xạ trị là phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với di căn xương. Tia xạ giúp phá hủy tế bào ung thư tại vị trí di căn, giảm hoạt động của các chất trung gian gây đau và giảm áp lực cơ học lên xương.
Khối u giai đoạn muộn ở vùng đầu cổ, phổi, bàng quang hoặc đường tiêu hóa có thể gây xuất huyết tái diễn, khiến người bệnh suy kiệt. Xạ trị giảm nhẹ giúp làm co mạch máu, hoại tử mô khối u và hình thành mô xơ, nhờ đó giảm hoặc cầm hẳn tình trạng chảy máu. Phương pháp này là lựa chọn hữu ích trong tình huống cấp cứu hoặc khi các phương pháp khác (nội soi, can thiệp mạch) không hiệu quả hoặc không khả thi.
Khi khối u nguyên phát hoặc di căn phát triển lớn có thể chèn ép lên tủy sống, não, khí quản hoặc mạch máu lớn, gây đau, liệt, khó thở hoặc rối loạn thần kinh. Xạ trị giảm nhẹ giúp làm giảm kích thước khối u, giảm áp lực cơ học lên các cấu trúc quan trọng.

Phương pháp này thường được bác sĩ Xạ trị chỉ định trong một số trường hợp:
Người bệnh ung thư có di căn xương thường xuất hiện triệu chứng đau kéo dài, kháng thuốc giảm đau thông thường hoặc có nguy cơ gãy xương bệnh lý. Xạ trị giúp giảm đau, ổn định cấu trúc xương và cải thiện vận động. 60% – 80% người bệnh sau xạ trị đã giảm đau xương, với thời gian trung bình từ 2 – 4 tháng. Hiệu quả giảm đau do di căn xương thường bắt đầu sau 1 – 2 tuần và đạt tối đa sau 4 – 6 tuần.
Khi khối u di căn chèn ép tủy sống, người bệnh có thể đau lưng dữ dội, yếu chi… Tia xạ giúp giảm kích thước khối u chèn ép, một số trường hợp cần kết hợp với corticosteroid hoặc phẫu thuật giải ép, nhằm bảo tồn chức năng vận động và kiểm soát triệu chứng cho người bệnh.
Người bệnh ung thư vùng đầu cổ hoặc ngực có thể bị khó thở, thở rít hoặc ho ra máu do khối u chèn ép khí quản, phế quản. Xạ trị giảm nhẹ có thể giảm kích thước khối u, nhờ đó mở rộng đường thở và cải thiện hô hấp. Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng với người bệnh không thể phẫu thuật hoặc đặt stent khí quản.
Một số trường hợp ung thư đầu cổ, phổi, bàng quang, trực tràng ở giai đoạn tiến xa có thể gây xuất huyết tái diễn, khiến người bệnh thiếu máu, suy kiệt và tăng nguy cơ tử vong. Lúc này, xạ trị có thể hỗ trợ cầm máu nhờ làm tổn thương vi mạch nuôi khối u và kích thích quá trình xơ hóa.
Cơ chế hoạt động của phương pháp xạ trị giảm nhẹ gồm các tác động sau:
Xạ trị sử dụng tia bức xạ ion hóa (thường là tia X năng lượng cao hoặc proton), gây đứt gãy chuỗi DNA, làm rối loạn quá trình phân chia và nhân đôi, từ đó khiến tế bào ung thư chết dần hoặc ngăn cản khối u phát triển. Đây là cơ chế chung của cả xạ trị triệt căn và giảm nhẹ.
Khi tế bào ung thư bị phá hủy, khối u giảm dần kích thước và giảm chèn ép các mô lân cận. Nhờ đó cải thiện các triệu chứng do tắc nghẽn đường thở, chèn ép tủy sống hoặc khối u lớn gây áp lực cơ học, giúp người bệnh cải thiện đáng kể chức năng và chất lượng cuộc sống.
Cơn đau ở người bệnh ung thư, nhất là khi di căn xương, thường do khối u xâm lấn màng xương, kích thích thần kinh hoặc gây viêm tại chỗ. Xạ trị phá hủy các tế bào ung thư ở vùng tổn thương, đồng thời giảm hoạt tính các chất trung gian gây đau như prostaglandin, cytokine. Nhờ đó, người bệnh giảm cường độ đau, ít phụ thuộc vào thuốc giảm đau liều cao, nhất là opioid.
Ngoài giảm đau, tia xạ còn hỗ trợ kiểm soát các triệu chứng khác do khối u gây ra, như co mạch máu và xơ hóa mô u giúp cầm máu; giảm tiết dịch ở khối u vùng phổi hoặc đầu cổ, giúp bớt khó thở, ho,…
Có 2 kỹ thuật xạ trị thường được ứng dụng trong chăm sóc giảm nhẹ, gồm:
Xạ trị chùm tia ngoài (EBRT) là phương pháp chủ lực trong xạ trị giảm nhẹ. Phương pháp này sử dụng máy gia tốc tuyến tính phát ra tia X năng lượng cao hoặc electron, chiếu từ bên ngoài vào khối u nhằm phá hủy DNA của tế bào ung thư, từ đó giảm kích thước khối u và cải thiện triệu chứng.
Trong chăm sóc giảm nhẹ, ERBT được ứng dụng rộng rãi cho ung thư di căn xương gây đau, di căn não gây triệu chứng (nhức đầu, co giật, tăng áp lực nội sọ), chèn ép tủy sống, tắc nghẽn đường thở do ung thư phổi hoặc đầu cổ, cũng như kiểm soát chảy máu ở khối u vùng chậu hoặc đường tiêu hóa.

Cơ chế của xạ trị áp sát là đưa nguồn phóng xạ vào trong hoặc sát với khối u, cho phép phát liều bức xạ cao trực tiếp tại vị trí tổn thương, đồng thời giảm tác động lên mô lành xung quanh. Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích trong chăm sóc giảm nhẹ, giúp giảm triệu chứng khi khối u gây tắc nghẽn phế quản hoặc khí quản (ung thư phổi), áp sát tử cung – âm đạo giúp cầm máu trong ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn hoặc khối u vùng đầu cổ khó kiểm soát bằng EBRT.
Sau khi được bác sĩ xạ trị chỉ định xạ trị giảm nhẹ, người bệnh sẽ được tư vấn kỹ lưỡng các thông tin như:
Trước khi bắt đầu, người bệnh cần được bác sĩ giải thích cụ thể về mục tiêu điều trị giảm nhẹ, lợi ích của phương pháp điều trị, quy trình thực hiện, các tác dụng phụ tiềm ẩn… Đây là bước quan trọng để người bệnh và gia đình có cái nhìn thực tế và hợp tác điều trị.
Bác sĩ và kỹ sư khoa Xạ trị sẽ thu thập các thông tin về tình trạng bệnh, kết quả chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm,… của người bệnh để xây dựng kế hoạch điều trị. Quá trình này giúp xác định liều xạ, số buổi chiếu, vùng cần xạ trị và kỹ thuật xạ trị. Xạ trị giảm nhẹ thường có số buổi chiếu ít hơn xạ trị triệt căn.
Người bệnh được chụp CT mô phỏng để xác định chính xác vị trí khối u. Những dụng cụ như mặt nạ xạ trị, bàn cố định,… có thể cần được sử dụng để đảm bảo tư thế ổn định, giúp tia xạ chiếu đúng vào vùng cần điều trị.

Quá trình xạ trị không gây đau, không để lại phóng xạ trong cơ thể và thường chỉ kéo dài vài phút. Người bệnh có thể được xạ 1 lần duy nhất hoặc nhiều lần trong vài ngày đến vài tuần, tùy theo chỉ định của bác sĩ.
Tâm lý căng thẳng có thể khiến người bệnh mệt mỏi hơn trong quá trình điều trị. Do đó, người bệnh có thể cần hỗ trợ tâm lý từ chuyên gia, bác sĩ, gia đình… hoặc thư giãn bằng cách hít thở sâu, thiền, nghe nhạc,… để giảm lo âu. Nếu người bệnh quá lo lắng trước các buổi xạ, bác sĩ có thể kê thuốc an thần nhẹ.
Người bệnh xạ trị giảm nhẹ thường ít có tác dụng phụ và nếu có thì cũng nhẹ hơn so với xạ trị triệt căn. Một số trường hợp người bệnh có thể mệt mỏi, buồn nôn, đỏ da, viêm niêm mạc, tiêu chảy hoặc rụng tóc tại vùng chiếu xạ.
Người bệnh nên duy trì chế độ ăn giàu dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý và vận động nhẹ. Một số trường hợp cần tránh ánh nắng trực tiếp tại vùng da đang xạ trị, hạn chế uống rượu bia, hút thuốc lá để giảm nguy cơ tác dụng phụ.
Trong và sau quá trình xạ trị, người bệnh cần duy trì liên lạc với bác sĩ để thông báo về các triệu chứng mới hoặc tác dụng phụ. Bác sĩ có thể đưa ra các hướng dẫn chăm sóc hoặc điều chỉnh phác đồ điều trị khi cần.
Xạ trị có thể gây các tác dụng phụ ngắn hạn (mệt mỏi, đỏ da, buồn nôn) và dài hạn (xơ hóa, teo mô, tổn thương thần kinh). Riêng với xạ trị giảm nhẹ, nguy cơ biến chứng dài hạn thường ít quan trọng vì tiên lượng sống giới hạn, nên ưu tiên hiệu quả giảm triệu chứng nhanh. Một số tác dụng phụ thường gặp gồm:
Đây là tác dụng phụ phổ biến nhất của xạ trị. Nguyên nhân có thể do tổn thương mô lành khi chiếu xạ, rối loạn giấc ngủ, thiếu máu, suy dinh dưỡng hoặc ảnh hưởng của bệnh ung thư tiến triển. Người bệnh thường thấy mệt mỏi âm ỉ, kéo dài. Để cải thiện tình trạng này, người bệnh cần có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý, bổ sung dinh dưỡng đầy đủ và vận động nhẹ.

Buồn nôn và nôn có thể xuất hiện khi xạ trị ở các vùng như ổ bụng, chậu, hông hoặc não, do tổn thương niêm mạc tiêu hóa, thay đổi nhu động ruột hoặc kích thích ở não. Mức độ buồn nôn khi xạ trị thường nhẹ hơn hóa trị, nhưng vẫn gây khó chịu. Bác sĩ có thể chỉ định thuốc chống nôn, đồng thời người bệnh nên chia thực đơn thành nhiều bữa trong ngày, tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, khó tiêu.
Vùng da nằm trong trường chiếu xạ có thể bị khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc nhẹ, giống như bị cháy nắng. Các phản ứng này thường xuất hiện sau vài buổi xạ và sẽ cải thiện dần sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, vùng da này có thể nhạy cảm lâu dài, do đó người bệnh cần tránh ánh nắng trực tiếp, che chắn bằng quần áo, sử dụng kem dưỡng ẩm dịu nhẹ theo hướng dẫn của bác sĩ Xạ trị.
Trong một số trường hợp, xạ trị giảm nhẹ có thể làm tăng cảm giác đau tạm thời tại vùng tổn thương trong vài ngày trước khi đạt hiệu quả giảm đau lâu dài. Hiện tượng này thường gặp ở người bệnh ung thư di căn xương. Bác sĩ có thể chỉ định người bệnh sử dụng thuốc giảm đau ở giai đoạn đầu xạ trị. Sau vài tuần, khi khối u đáp ứng với tia xạ, cơn đau sẽ giảm rõ rệt.
Để giảm ảnh hưởng của xạ trị giảm nhẹ với sức khỏe, người bệnh cần lưu ý:
Để đặt lịch khám, tư vấn và xạ trị giảm nhẹ tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Dù có thể tiềm ẩn một số tác dụng phụ, nhưng xạ trị giảm nhẹ vẫn là phương pháp hữu ích cho người bệnh ung thư ở giai đoạn tiến xa, giúp giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống. Người bệnh cần duy trì chế độ dinh dưỡng lành mạnh, nghỉ ngơi đầy đủ, giữ tinh thần lạc quan và phối hợp với bác sĩ để quá trình điều trị hiệu quả.