Chị Thu, 54 tuổi, có ống động mạch lớn từ sau sinh nhưng không biết, đến khi phát hiện thì không thể can thiệp do nguy cơ tử vong trong lúc phẫu thuật cao.

Chị Thu được chẩn đoán suy tim, tăng áp động mạch phổi từ nhiều năm trước nhưng không tìm ra nguyên nhân, chỉ uống thuốc điều trị theo toa. Gần đây triệu chứng nặng lên, chị mệt ngay cả khi không làm việc nặng, thường xuyên phải ngủ ngồi vì khó thở. Chị đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM khám.
Ngày 11/4, ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trưởng khoa Nội tim mạch 1, Trung tâm Tim mạch, cho biết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng mệt mỏi, khó thở nhiều, phù toàn thân và gan to. Siêu âm tim ghi nhận chức năng co bóp tim – EF giảm còn 23%, tăng áp động mạch phổi nặng, xơ gan tim (gan bị tổn thương do ứ máu kéo dài). Điều đáng nói là bác sĩ phát hiện bệnh nhân có ống động mạch lớn. “Đây chính là nguyên nhân khiến chị Thu suy tim, tăng áp phổi nghiêm trọng”, bác sĩ Kiều khẳng định.
Ống động mạch là một phần bình thường của hệ thống tuần hoàn bào thai, thường đóng lại ngay sau khi trẻ chào đời. Còn ống động mạch (Patent ductus arteriosus – PDA) xảy ra khi ống động mạch không tự đóng được trong những tuần lễ đầu sau sinh. Hệ quả là ống động mạch lớn dần lên, nếu không được điều trị có thể khiến dòng máu chảy bất thường từ động mạch chủ sang động mạch phổi, làm tăng áp lực động mạch phổi, giãn buồng tim, suy yếu cơ tim và gây ra các biến chứng khác như suy tim, viêm phổi, viêm nội tâm mạc.
Còn ống động mạch nhỏ thường không biểu hiện dấu hiệu hoặc triệu chứng, nên không được phát hiện cho đến khi trẻ trưởng thành. Như chị Thu sống chung với bệnh hàng chục năm mà không biết, không có biện pháp điều trị kịp thời. Đến khi suy tim nặng mới phát hiện thì đã quá thời điểm vàng can thiệp.
Theo bác sĩ Kiều, hai phương pháp ngoại khoa được chỉ định điều trị còn ống động mạch là đóng ống động mạch qua da và phẫu thuật thắt ống động mạch bằng chỉ khâu hoặc kẹp. Tuy nhiên, chỉ những trường hợp chưa có biến chứng mới áp dụng được các biện pháp này. Chị Thu suy tim nặng do tăng áp phổi nặng, gây ứ máu tĩnh mạch ở gan, lâu ngày dẫn tới xơ gan. Đây là những yếu tố chống chỉ định can thiệp ngoại khoa. Bệnh nhân có nguy cơ lên cơn tăng áp phổi trong lúc mổ, tử vong là rất lớn.
Chị Thu được điều trị suy tim với thuốc lợi tiểu, digoxin, thuốc chẹn beta, ức chế men chuyển và thuốc kháng vitamin K. Sau 4 ngày chị giảm phù, bớt khó thở khi nằm, nhịp tim và huyết áp ổn định, được xuất viện điều trị ngoại trú. Bác sĩ căn dặn chị tái khám, uống thuốc đầy đủ để kịp thời xử lý nếu có bất thường.

Bác sĩ Kiều chia sẻ, đây là một trường hợp đáng tiếc khi mắc bệnh tim bẩm sinh mà ngoài 50 tuổi mới phát hiện, lúc này không thể điều trị dứt điểm mà chỉ kê toa thuốc kiểm soát triệu chứng. Hiện nay, 90% các bất thường tim bẩm sinh đã có thể chẩn đoán ngay từ trong bụng mẹ, thậm chí từ 12-18 tuần thai, thông qua siêu âm tim thai và siêu âm thai. Điều này giúp các bác sĩ lên kế hoạch điều trị sớm, sinh an toàn, thậm chí can thiệp ngay từ khi trẻ còn trong bào thai.
Trường hợp trẻ chưa phát hiện bệnh trong thai kỳ thì nên được sàng lọc tim bẩm sinh sau khi chào đời, đặc biệt là những trẻ có yếu tố nguy cơ như sinh non, tiền sử gia đình mắc bệnh tim, mẹ nhiễm rubella khi mang thai. Điều này giúp xác định mức độ nghiêm trọng của dị tật tim, khả năng và thời điểm can thiệp đối với từng trường hợp, tiên lượng tỷ lệ thành công.
Thống kê cho thấy nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực Tim mạch can thiệp và phẫu thuật tim trong những năm gần đây, 98% trẻ dị tật tim bẩm sinh có thể sống khỏe mạnh đến tuổi trưởng thành, thậm chí tuổi thọ tương đương với những trẻ bình thường khác nếu được phát hiện và điều trị kịp thời.
Người trưởng thành khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh tim bẩm sinh như khó thở, mệt mỏi, hụt hơi…, cần đi khám sớm để có hướng xử trí phù hợp, tránh để bệnh tiến triển gây biến chứng nặng, giảm hiệu quả điều trị, bác sĩ Kiều khuyến cáo.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH