Người Việt Nam đang sống thọ hơn, nhưng số năm sống khỏe lại thấp. Nhiều bệnh mạn tính chỉ được phát hiện khi đã ở giai đoạn nặng, buộc phải can thiệp tốn kém và kéo dài. Thực tế này đặt ra yêu cầu đặt trọng tâm từ điều trị sang phòng bệnh, trong đó khám sức khỏe tổng quát định kỳ và y tế dự phòng giữ vai trò quan trọng.
“Tôi lo lắm, thương ông nhà tôi quá…”, bà Lan thở dài.
Ngồi trước cửa khoa Hồi sức tích cực và Chống độc (ICU), Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, bà Lan (70 tuổi, Đồng Nai), không giấu được sự mệt mỏi sau nhiều giờ chờ đợi. Ông Thời (83 tuổi), chồng bà đang được điều trị tích cực sau cơn nhồi máu cơ tim nặng.
“Mấy năm nay, tháng nào ông ấy cũng phải vào viện vài lần. Gia đình quen rồi, nhưng lần này nặng quá, tôi sợ ông không qua khỏi”, bà Lan nói.
Hai ông bà sống ở Đồng Nai, bốn người con đều định cư ở nước ngoài. Điều kiện kinh tế không phải nỗi lo, nhưng bệnh tật kéo dài khiến tuổi già của họ trở nên nặng nề. Khi xuất hiện cơn đau tức ngực, khó thở, ông Thời được đưa vào cấp cứu. Các xét nghiệm cho thấy ông bị nhồi máu cơ tim trên nền hàng loạt bệnh mạn tính như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch, suy gan.
Các biện pháp hồi sức tim mạch được triển khai khẩn trương, với sự hỗ trợ của hệ thống ECMO trước khi can thiệp mạch vành. Sau đó, quanh giường bệnh là hàng loạt thiết bị hồi sức hiện đại như bóng đối xung, đo oxy não, lọc máu liên tục, máy thở dòng cao… nhằm duy trì sự sống. “Tôi thương ông ấy lắm, không đành lòng khi thấy cảnh này”, bà Lan nghẹn lại.
Theo TTND.TS.BS.CKII Phan Thị Xuân, Trưởng khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực và Chống độc (ICU), các trường hợp người cao tuổi, người có nhiều bệnh nền phức tạp phải nhập ICU thường xuyên là tình trạng không hiếm. Có những trường hợp vài tháng lại nhập viện điều trị dài ngày, không chỉ gây tổn hại lớn về sức khỏe mà còn tạo gánh nặng tinh thần, tài chính cho gia đình và áp lực cho hệ thống y tế.

Ở một giường bệnh ICU khác, ông Tào, (65 tuổi, TP HCM), nằm lúc tỉnh lúc mê. Mỗi khi nghe tiếng vợ gọi, ông chỉ có thể cựa nhẹ đầu như phản xạ yếu ớt. Bà Thanh, vợ ông, đứng lặng bên giường bệnh, trong khi cơn hôn mê gan khiến ông gần như không thể giao tiếp. “Cả đời ông ấy chỉ biết đi làm, dành dụm tiền nuôi con. Tưởng đến tuổi này được an nhàn, ai ngờ bệnh tật liên miên”, bà nói.
Ông Tào mắc hôn mê gan trên nền xơ gan do rượu bia. Quá trình điều trị đã kéo dài nhiều tháng, cứ xuất viện được một thời gian ngắn, sức khỏe lại xấu đi. Ở giai đoạn nặng, người bệnh mất dần ý thức, không còn khả năng giao tiếp, đáp ứng rất kém với kích thích và có nguy cơ suy hô hấp, biến chứng đe dọa tính mạng, buộc phải theo dõi y tế liên tục.
Những câu chuyện như của ông Thời hay ông Tào không còn hiếm trong các bệnh viện lớn. Điều này phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm: người Việt Nam ngày càng sống thọ, nhưng không đồng nghĩa với việc sống khỏe.
Theo các số liệu thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện đạt 74,7 tuổi, cao hơn nhiều quốc gia có cùng mức sống. Trong khu vực Đông Nam Á, tuổi thọ nam giới Việt Nam đứng thứ 5, nữ giới đứng thứ 2. Tuy nhiên, tuổi thọ khỏe mạnh lại thấp. Từ khoảng 64 tuổi, phần lớn người dân bắt đầu mắc đồng thời nhiều bệnh mạn tính. Trung bình, khoảng 10 năm cuối đời, người Việt phải “sống chung” với bệnh tật, làm giảm đáng kể chất lượng sống.
So sánh quốc tế cho thấy sự chênh lệch rõ rệt. Tại Nhật Bản, tuổi thọ trung bình đạt 86 tuổi và người dân có thể sống khỏe mạnh tới khoảng 80 tuổi. Trong khi đó, năm 2019, một người đàn ông Việt Nam ở tuổi 60 trung bình chỉ sống thêm 12,9 năm khỏe mạnh, thấp hơn mức 14,8 năm của thế giới; với nữ giới, con số này là 16,4 năm, cũng thấp hơn mặt bằng chung.
Mô hình bệnh tật tại Việt Nam đã thay đổi sâu sắc. Nếu như cách đây khoảng 50 năm, nguyên nhân tử vong chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, thì hiện nay, các bệnh không lây nhiễm chiếm tới 80% tổng số ca tử vong. Trong đó, bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là ung thư, đái tháo đường và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Bên cạnh đó, nhiều người cao tuổi Việt Nam phải sống chung với nhiều bệnh nền cùng lúc. Gần 48,5% mắc viêm khớp, đau dây thần kinh hoặc thấp khớp; 41% bị tăng huyết áp; 37,5% thường xuyên đau nhức cơ thể; 30,3% đau lưng mạn tính; 18,8% mắc các bệnh lý tiêu hóa. Đáng nói, không ít người vẫn duy trì các thói quen có hại cho sức khỏe như hút thuốc, lạm dụng rượu bia.
Ở góc độ y tế cộng đồng, BS.CKII Phạm Thị Thanh Tâm, Trưởng đơn vị Nội Tổng hợp, Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Quận 7, cho rằng khám sức khỏe định kỳ chính là nền tảng của mô hình phòng bệnh. Việc chủ động thăm khám giúp phát hiện sớm những bệnh lý âm thầm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, ung thư… những bệnh có thể tồn tại nhiều năm mà không có triệu chứng rõ ràng.
Theo bác sĩ Tâm, không ít trường hợp chỉ phát hiện bệnh sau khi đã xảy ra biến cố nghiêm trọng như đột quỵ hay nhồi máu cơ tim. Trong khi đó, nếu được tầm soát sớm, nhiều bệnh lý chỉ cần thay đổi lối sống, theo dõi định kỳ là có thể kiểm soát hiệu quả, ngăn ngừa biến chứng. Việc phát hiện sớm không chỉ giúp tăng hiệu quả điều trị mà còn giảm chi phí và cải thiện chất lượng sống.

Bác sĩ Tâm cũng nhấn mạnh, khám sức khỏe tổng quát định kỳ còn giúp người dân hiểu rõ tình trạng sức khỏe của chính mình, nhận được tư vấn về dinh dưỡng, vận động, tiêm phòng vaccine và kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Khi người dân được quản lý sức khỏe chủ động, số ca nhập viện cấp cứu và điều trị nặng sẽ giảm, qua đó góp phần giảm tải cho hệ thống y tế.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, thách thức này ngày càng rõ nét. Dự báo đến năm 2030, cả nước sẽ có khoảng 17,2 triệu người cao tuổi và đến năm 2049, con số này tăng lên gần 27 triệu. Chỉ trong khoảng 14-15 năm tới, cứ 5 người Việt sẽ có một người trên 60 tuổi. Trong khi đó, mô hình gia đình truyền thống nơi người cao tuổi sống cùng con cháu đang thu hẹp nhanh. Tỷ lệ người cao tuổi sống riêng đã tăng từ 18% năm 2009 lên 27% năm 2019, khiến việc chăm sóc người già dựa hoàn toàn vào gia đình ngày càng khó khăn.
Theo bác sĩ Tâm, những áp lực này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi tư duy chăm sóc sức khỏe, từ bị động sang chủ động, từ chữa bệnh sang phòng bệnh, tức tầm soát phát hiện bệnh từ giai đoạn sớm. Trong bối cảnh thế giới đối mặt với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và nguy cơ dịch bệnh mới, việc đầu tư cho y tế dự phòng không chỉ mang ý nghĩa y tế mà còn là chiến lược phát triển bền vững.
Thực tiễn cho thấy, y tế dự phòng đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn bệnh tật từ sớm, giảm quá tải bệnh viện và tiết kiệm nguồn lực xã hội. Đại dịch COVID-19 là minh chứng rõ nét khi sự vào cuộc kịp thời của y tế cơ sở, xét nghiệm, truy vết và kiểm dịch đã giúp kiểm soát dịch bệnh trong giai đoạn khó khăn nhất. Nhiều nghiên cứu cho thấy, mỗi đồng đầu tư cho phòng bệnh có thể tiết kiệm nhiều lần chi phí điều trị.
Trong chiến lược này, khám sức khỏe tổng quát định kỳ được xem là “cửa ngõ” của y tế dự phòng. Việc chủ động thăm khám giúp phát hiện sớm các bệnh lý âm thầm, từ đó điều trị kịp thời, ngăn ngừa biến chứng. Đồng thời, người dân có cơ hội được tư vấn về dinh dưỡng, vận động, lối sống, tiêm phòng vaccine và kiểm soát các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì hay tiền sử gia đình.
Thực tế lâm sàng cho thấy không ít trường hợp chỉ phát hiện tăng huyết áp, đái tháo đường sau khi đã bị đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim. Trong khi đó, nếu được tầm soát sớm, nhiều trường hợp chỉ cần thay đổi lối sống, theo dõi định kỳ là có thể kiểm soát bệnh hiệu quả. Việc phát hiện sớm không chỉ giúp tăng hiệu quả điều trị mà còn giảm chi phí, cải thiện chất lượng sống và gia tăng số năm sống khỏe mạnh.
Những ca bệnh nặng trong ICU cho thấy rõ giới hạn của y học khi bệnh được phát hiện muộn. Ngược lại, phòng bệnh và phát hiện sớm cho phép người bệnh sống chung an toàn với bệnh nền, duy trì sinh hoạt bình thường và giảm gánh nặng cho gia đình, xã hội.
Chuyển từ tư duy “có bệnh mới đi khám” sang bảo vệ sức khỏe suốt đời không chỉ là thay đổi trong ngành y, mà còn là sự dịch chuyển trong nhận thức của mỗi người dân. Dù bận rộn đến đâu, việc dành thời gian khám sức khỏe định kỳ 1-2 lần mỗi năm là cần thiết để hiểu rõ tình trạng sức khỏe của chính mình, nhận diện sớm nguy cơ và điều chỉnh kịp thời. Đây là yêu cầu tất yếu của kỷ nguyên mới trong y tế, giúp người dân không chỉ sống lâu hơn mà còn sống khỏe hơn.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH