Ông Quang, 69 tuổi, chán ăn, sụt cân liên tiếp, đi khám men gan tăng hàng chục lần, được chẩn đoán ung thư tụy; vừa trải qua cuộc đại phẫu thành công.

Bác sĩ chuyên khoa 2 Võ Ngọc Bích, Khoa Gan – Mật – Tụy, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết trường hợp ung thư tụy như ông Quang diễn tiến rất nhanh, phương pháp điều trị tối ưu là phẫu thuật nhằm loại bỏ toàn bộ khối u ra, ngăn chặn sự xâm lấn và di căn sang các cơ quan khác trong ổ bụng. Trường hợp ông Quang bị khối u ở đầu tụy, do đó cần thực hiện kỹ thuật phẫu thuật cắt khối tá tụy (Whipple). “Hiện đây là phương pháp duy nhất có thể giúp điều trị tốt nhất, tránh tái phát và tăng thời gian sống lâu dài cho người bệnh”, Bác sĩ Bích nói.
Trước đó, ông Quang (ngụ Đắk Lắk) đi khám sức khỏe định kỳ tại bệnh viện gần nhà phát hiện chỉ số men gan tăng cao. Tuy nhiên, qua thăm khám ban đầu, chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng nên ông được điều trị bằng thuốc hạ men gan. Sau vài tuần dùng thuốc, tình trạng sức khỏe của ông Quang diễn biến xấu hơn, da và củng mạc mắt bắt đầu chuyển sang màu vàng nên được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM.
Bác sĩ Bích chỉ định ông Quang thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu. Xét nghiệm máu cho thấy chỉ số men gan cao hơn 30 lần so với mức bình thường, trong đó ALT (GPT) lên tới 1.600 U/L (bình thường khoảng 50 U/L). Kết quả chụp CT ổ bụng ghi nhận tổn thương tại vùng đầu tụy, kích thước khoảng 20 mm, nằm sát tá tràng đoạn D2, một số vị trí ranh giới chưa rõ, thành túi mật phù nề, ống mật chủ giãn. Những kết quả này gợi ý tình trạng tắc mật, nghi ngờ ung thư vùng đầu tụy.

Để đánh giá chính xác mức độ tổn thương, bác sĩ chỉ định ông Quang chụp cộng hưởng từ (MRI) ổ bụng có tiêm thuốc cản quang. Kết quả cho thấy khối tổn thương choán chỗ tại vùng đầu tụy với kích thước khoảng 20 mm, chèn ép và xâm lấn ống tụy chính đoạn đầu, gây giãn ống tụy lên tới 7 mm, đường mật trong và ngoài gan bị giãn.
Theo bác sĩ Bích, cuộc đại phẫu cho ông Quang thuộc dạng rất phức tạp trong ngoại Gan – mật – tụy, tiềm ẩn nhiều biến chứng trong và sau mổ như liệt dạ dày, chảy máu sau phẫu thuật, rò mật, rò tụy, rò miệng nối hoặc tụ dịch nhiễm trùng. Đáng lo ngại nhất là biến chứng rò tụy, có thể dẫn đến suy đa tạng và nguy cơ tử vong cao. Trường hợp nặng, người bệnh buộc phải phẫu thuật lại để cắt toàn bộ tụy, đồng nghĩa với việc phải sử dụng insulin suốt đời để kiểm soát đường huyết.
Để đảm bảo an toàn, trước đó ông Quang được đặt dẫn lưu dịch mật ra ngoài, để điều trị hạ men gan ổn định. Điều này giúp tránh nguy cơ nhiễm trùng và bục đường nối, do khi bị tắc mật, các mô ở đường mật và ruột thường bị phù nề, bở và rất dễ rách. Người bệnh có thêm thời gian nâng cao thể trạng, chuẩn bị cho cuộc đại phẫu có thể kéo dài nhiều giờ, đòi hỏi thể lực và sự ổn định toàn thân cao.

Bắt đầu cuộc mổ, các bác sĩ tiến hành đặt 6 trocar vào ổ bụng để thăm dò và phẫu tích. Qua đánh giá ban đầu, khối u vùng đầu tụy có mật độ chắc, còn di động, mạc nối lớn có tình trạng viêm dính… đủ điều kiện để tiến hành phẫu thuật cắt khối tá tụy.
Bác sĩ tiến hành cắt bỏ nhiều cơ quan gồm: đầu tụy, phần hang vị dạ dày, tá tràng, quai đầu tiên của hỗng tràng, túi mật, đoạn thấp của ống mật chủ. Đồng thời, nạo vét hạch tại các vùng rốn gan, động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên và vùng giữa động mạch chủ – tĩnh mạch cửa. Bác sĩ thực hiện cắt bỏ khối u, tái lập lưu thông tiêu hóa, nối phần tụy còn lại, ống mật và dạ dày vào ruột non, giúp cơ thể duy trì chức năng tiêu hóa và hoạt động tiết enzyme. Ca phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy của ông Quang kéo dài gần 10 giờ.
Hậu phẫu, ông Quang được theo dõi sát sao, điều trị bằng thuốc kháng sinh phổ rộng, dẫn lưu dịch mật. Sau 2 ngày, người bệnh có thể đi lại, được ăn cháo loãng, vết mổ không có dấu hiệu nhiễm trùng, xuất viện sau 10 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô tuyến ống tụy, biệt hóa cao, tất cả các diện cắt không còn u các hạch vùng được nạo là hạch viêm.

Theo bác sĩ Bích, ung thư tụy là một trong những bệnh lý ung thư nguy hiểm nhất do diễn tiến rất nhanh và âm thầm. Các tế bào ung thư tụy có xu hướng xâm lấn sớm vào hệ thống mạch máu lớn và các bó thần kinh xung quanh tụy, khiến bệnh nhanh chóng lan rộng. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi khối u đã ở giai đoạn muộn, làm giảm đáng kể cơ hội điều trị triệt căn. Chỉ có khoảng 15 – 20% bệnh nhân ung thư tụy được chẩn đoán ở giai đoạn còn khả năng phẫu thuật Whipple như trường hợp ông Quang.
Một trong những nguyên nhân khiến ung thư tụy khó phát hiện sớm là do tuyến tụy nằm sâu phía sau dạ dày, các khối u nhỏ hầu như không thể sờ thấy khi thăm khám lâm sàng thông thường hoặc siêu âm bụng rất khó phát hiện sớm. Triệu chứng ban đầu như đầy hơi, chướng bụng, đau lưng âm ỉ hoặc mệt mỏi kéo dài… khá mơ hồ, dễ nhầm lẫn với các bệnh dạ dày hay tiêu hóa thông thường.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư tụy đứng thứ 14 về tỷ lệ mắc nhưng lại xếp thứ 7 về tỷ lệ tử vong do ung thư trên toàn cầu. Do đó, bác sĩ Bích khuyến cáo người dân cần chủ động khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt là những người thuộc nhóm nguy cơ cao như trên 50 tuổi, hút thuốc lá, mắc đái tháo đường mới khởi phát, có tiền sử gia đình mắc ung thư tụy hoặc trường hợp bị viêm tụy mạn.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH