Ông Tú, 66 tuổi, đi chữa răng bất ngờ phát hiện nhánh mạch máu nuôi não hẹp nặng khiến huyết áp tăng cao dù không triệu chứng, có nguy cơ đột quỵ.
“Bệnh nhân may mắn phát hiện hẹp động mạch cảnh để xử trí kịp thời, ngăn biến chứng đột quỵ”, ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trưởng khoa Nội tim mạch 1, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa TP.HCM nhấn mạnh, giải thích thêm huyết áp tăng cao sẽ làm tăng áp lực lên các động mạch, đặc biệt có thể gây vỡ mạch máu não. Ngoài ra, huyết áp cao còn làm tổn thương thành động mạch và có thể làm tăng hoạt động đông máu, hình thành các cục máu đông gây đột quỵ nhồi máu não.
Ông Tú không có tiền căn tăng huyết áp hay bệnh lý tim mạch. “Tôi chưa từng đi khám tổng quát, cũng ít khi đo huyết áp vì thấy người khỏe mạnh, không có triệu chứng bất thường”, ông kể. Khi đi chữa răng tại phòng khám nha khoa, ông được kiểm tra huyết áp, ghi nhận chỉ số 198/120 mmHg. Lập tức, người nhà đưa ông đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cấp cứu.

Bác sĩ Kiều cho biết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng tỉnh táo, không nhức đầu, chóng mặt hay đau tức ngực. Một người bình thường có chỉ số huyết áp 120/80 mmHg, máu lưu thông đều và tốc độ bơm máu ổn định. Huyết áp tăng khi chỉ số lớn hơn hoặc bằng 140/90 mmHg.
Trường hợp huyết áp tâm thu xấp xỉ 200 mmHg, người bệnh có thể nhận biết qua các dấu hiệu đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, đột ngột yếu và liệt nửa người, liệt mặt hoặc méo miệng, đau tức ngực gây khó thở hoặc ho ra máu, giảm thị lực, nhìn mờ, lú lẫn… “Ông Tú không biểu hiện triệu chứng, chỉ tình cờ phát hiện là rất hiếm gặp”, bác sĩ Kiều nói, thêm rằng huyết áp lên tới mức này có nguy cơ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, thiếu máu cục bộ, suy tim, phì đại tâm thất trái, bệnh thận, biến chứng mắt…
Bác sĩ dùng thuốc ổn định huyết áp, song song thực hiện các cận lâm sàng để tìm nguyên nhân. Kết quả chụp CT xác định động mạch cảnh trong phải hẹp 80%, hệ mạch vành hẹp nhẹ đến trung bình (20-60%) kèm vôi hóa nặng.
ThS.BS Trần Thúc Khang, Phó khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, đây là trường hợp tổn thương mạch máu nhiều hệ thống trên nền xơ vữa động mạch. Động mạch vành (mạch máu nuôi tim) bị hẹp nhiều vị trí, nhưng ở mức độ trung bình, có thể điều trị nội khoa. Tuy nhiên, động mạch cảnh (cung cấp máu nuôi não) bên phải hẹp nặng (> 80%), nếu không phẫu thuật giải quyết tổn thương xơ vữa gây hẹp, nguy cơ tai biến mạch máu não rất cao. Bệnh nhân còn có tổn thương xơ hang phổi lan rộng, tiền sử lao phổi chưa điều trị đầy đủ, cũng là một trong những nguy cơ gây rủi ro trong lúc phẫu thuật.
Ông Tú được chẩn đoán lao phổi 20 năm trước, cần điều trị theo phác đồ 9 tháng. Tuy nhiên, ông chỉ uống thuốc kháng lao 1 tháng và không tái khám đến nay. Đây có lẽ là nguyên nhân làm cho phổi của bệnh nhân tổn thương rộng.
Sau hội chẩn chuyên khoa Nội – Ngoại tim mạch, hô hấp, gây mê hồi sức, ê kíp quyết định phẫu thuật lột bỏ lớp nội mạc động mạch cảnh trong bị xơ vữa gây hẹp lòng mạch cho bệnh nhân.
Theo bác sĩ Khang, có nhiều kỹ thuật bóc nội mạc động mạch cảnh như mở dọc động mạch, lột tổ chức xơ vữa và vá lại động mạch; dùng kỹ thuật “lộn ngược” động mạch cảnh trong. Quá trình phẫu thuật cần đảm bảo tưới máu não xuyên suốt với sự hỗ trợ của thiết bị theo dõi độ bão hòa oxy não liên tục. Hiện rất ít cơ sở được trang bị phương tiện này.
Bác sĩ Khang cùng êkíp tiến hành cắt rời động mạch cảnh trong, lộn ngược và loại bỏ lớp nội mạc xơ vữa bên trong, sau đó cắm lại động mạch cảnh trong về lại vị trí ban đầu. Kỹ thuật này không dùng vật liệu vá nhân tạo, giúp giảm nguy cơ huyết khối sau mổ, giảm biến chứng chảy máu, giảm tỷ lệ hẹp tái phát, rút ngắn thời gian phẫu thuật và tối ưu chi phí cho người bệnh.
Sau phẫu thuật, huyết áp bệnh nhân duy trì ổn định, chỉ số bảo hòa oxy não bên nhánh động mạch đã phẫu thuật gần bằng bên còn lại, không có tai biến thần kinh trong mổ. Ông xuất viện sau 3 ngày.

Theo bác sĩ Khang, khoảng 70-75% trường hợp hẹp động mạch cảnh trong không có triệu chứng, chỉ được phát hiện tình cờ khi khám bệnh lý khác hoặc khi gặp biến chứng đột quỵ não. Người bệnh có các yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đình bị xơ vữa động mạch hoặc bệnh mạch vành, hút thuốc lá, béo phì, uống nhiều rượu bia, mắc bệnh lý nền (tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường)… cần khám sức khỏe định kỳ và kiểm tra tim mạch chuyên sâu để phát hiện sớm bất thường để can thiệp kịp thời.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH