“Có thể điều trị và làm chậm diễn tiến của bệnh mạch vành bằng cách điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như bỏ thuốc lá, tăng cường vận động, giảm cân, không uống rượu bia nhiều, hạn chế những thức ăn dầu mỡ, nhiều chất béo”, đó là khẳng định của ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều – Trưởng khoa Nội tim mạch 1, BVĐK Tâm Anh TP.HCM tại buổi tư vấn trực tuyến “Can thiệp động mạch vành và điều trị nội khoa”.
Ngày càng có nhiều người trẻ tuổi được chẩn đoán mắc bệnh mạch vành. Đây là một bệnh lý tim mạch phổ biến, xảy ra do nguyên nhân chính là các mảng xơ vữa làm tắc nghẽn động mạch, gây ra những cơn đau thắt ngực và khiến người bệnh khó thở, xây xẩm, choáng váng. Không chỉ vậy, cơn đau ngực do bệnh mạch vành cấp còn có nguy cơ gây ra hiện tượng nhồi máu cơ tim, cướp đi sinh mạng người bệnh nếu không cấp cứu kịp thời.
Tại buổi tư vấn trực tuyến diễn ra vào ngày 19/1/2022, hai chuyên gia đến từ Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM: BS.CKII Huỳnh Ngọc Long – Phó Giám đốc Phụ trách Nội khoa và ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều – Trưởng khoa Nội tim mạch 1 đã giải đáp tất cả thắc mắc của độc giả về bệnh mạch vành – được xem là nguyên nhân gây tử vong cao trên thế giới. Độc giả có thể xem lại buổi tư vấn tại đây.

Mỗi một cơ quan trong cơ thể con người đều được nuôi bằng một hệ thống cung cấp chất dinh dưỡng. Hệ thống đó gọi là động mạch. Động mạch nuôi tim có tên là động mạch vành. Có hai động mạch nằm bên phải và bên trái ôm lấy tim. Chúng sẽ hoạt động rất tốt nếu lòng động mạch đủ rộng để giúp máu lưu thông. Nhưng khi động mạch nuôi tim bị tắc, vùng cơ tim đó sẽ không có động mạch nào khác đến nuôi, dẫn tới hiện tượng nhồi máu cơ tim.
Ống mạch máu sẽ hẹp theo thời gian. Từ khi chúng ta sinh ra, trong dòng máu của động mạch vành đã có chất LDL (chất béo xấu) có vai trò vận chuyển chất mỡ đi trong nước. Chất này là nguyên nhân chính gây ra xơ vữa động mạch. LDL tồn tại từ lúc con người sinh ra cho đến khi mất đi. Vì vậy, hiện tượng nghẽn động mạch vành sẽ diễn tiến nặng lên theo tuổi. Giả sử cứ năm đầu tiên hẹp 1%, năm thứ hai hẹp 2%… thì đến khi chúng ta 100 tuổi, mạch vành sẽ hẹp 100%. Đó là lý do BS.CKII Huỳnh Ngọc Long – Phó Giám đốc Phụ trách Nội khoa, Trung tâm Tim mạch BVĐK Tâm Anh TP.HCM khẳng định: “Dù chúng ta không có bệnh gì khác, thì bệnh mạch vành vẫn diễn tiến một cách tự nhiên. Nếu còn mắc thêm các bệnh lý như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì…, tốc sẽ hẹp sẽ tăng lên rất nhanh. Có trường hợp bệnh nhân phát hiện bệnh mạch vành khi mới 25 tuổi, thậm chí có bạn chưa đầy 20 tuổi đã có triệu chứng bệnh này”.
Có 8 yếu tố góp phần đẩy nhanh diễn tiến hẹp mạch vành: thứ nhất là thuốc lá, thứ hai là huyết áp cao, thứ ba là đái tháo đường, thứ tư là béo phì, thứ năm là mỡ trong máu, thứ sáu là chế độ ăn uống, thứ bảy là chế độ tập luyện và thứ tám là yếu tố tâm lý – thần kinh của bệnh nhân. Chỉ khi chúng ta kiểm soát tốt những yếu tố này thì mới giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều – Trưởng khoa Nội tim mạch 1 BVĐK Tâm Anh TP.HCM cho biết: “Nguyên tắc chung trong phòng ngừa và điều trị bệnh mạch vành chính là thay đổi lối sống. Nếu bạn đang hút thuốc lá, hãy bỏ ngay; nếu bạn chưa có thói quen tập thể dục, hãy cố gắng tập luyện ít nhất 150 phút mỗi tuần; nếu bạn đang thừa cân, hãy kiểm soát cân nặng để đạt được chỉ số BMI lý tưởng (18,5-23); nếu bạn thường xuyên uống rượu bia, hãy hạn chế; nếu bạn là tín đồ của các món ăn nhiều dầu mỡ hay thức ăn nhanh, hãy cắt giảm chúng trong khẩu phần ăn… Bên cạnh đó, cần điều trị các bệnh lý đi kèm, ví dụ như tăng huyết áp, đái tháo đường. Làm tốt tất cả những điều này, cộng với tuân thủ uống thuốc theo toa, chắc chắn người bệnh mạch vành sẽ cải thiện hiệu quả các triệu chứng bệnh và phòng ngừa biến chứng”.
Dưới đây là phần giải đáp chi tiết của hai chuyên gia về những vấn đề xoay quanh bệnh mạch vành.
Làm sao để phân biệt bệnh mạch vành cấp và mạch vành mạn? Trường hợp nào nguy hiểm hơn và liệu có điều trị khỏi bệnh được không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Trong cấu trúc mạch máu của chúng ta có một lớp gọi là lớp tế bào nội mạc. Nhờ đó, khối LDL không thể len vào trong. Khi những lớp tế bào nội mạc chết đi sẽ tạo thành lỗ hổng, và khối LDL dưới áp lực của huyết áp sẽ lấn sâu vào trong. Lúc đó, đại thực bào phát hiện có một vật lạ đi sâu vào trong cơ thể nên tiết ra rất nhiều enzym nhằm tiêu hóa khối LDL. Tuy nhiên, khối này rất bền vững mà enzym không thể tiêu hóa được. Chúng ta gọi là tế bào bọt. Chính tế bào bọt này là khởi đầu của mảng xơ vữa. Khi bạch cầu chết đi, nó lại giải phóng tiếp khối này, đồng thời giải phóng những hóa chất trung gian hút “đồng đội” tới để thực bào khối LDL. Quá trình này gọi là phản ứng viêm. Chính phản ứng viêm đó làm cho mảng xơ vữa có thể vỡ ra, làm lộ ra mô tươi. Cơ chế đông máu tự nhiên sẽ hít vào mô tươi đó hồng cầu, tiểu cầu… nhằm “vá” lại lỗ hổng. Hiện tượng máu đông này gây ra tình trạng bít tức thời. Nếu mạch máu hẹp một cách từ từ, tức là từ 1%, 2% đến 5%, 50%… Khi đó chúng ta phải gắng sức, dẫn tới hiện tượng thiếu máu nuôi, biểu hiện là tế bào cơ tim bị chết sẽ vỡ ra, giải phóng axit arachidonic kích thích lên thần kinh, gây ra hiện tượng đau. Nhưng nếu chúng ta hết gắng sức thì chỗ hẹp này sẽ tiếp tục đủ máu nuôi. Như vậy, mạch vành không bị vỡ mà chỉ hẹp từ từ theo thời gian, gây ra những cơn đau thắt ngực và bệnh lý đó gọi là bệnh mạch vành mạn tính.
Còn bệnh mạch vành cấp, khi mảng xơ vữa vỡ ra, vô tình làm cho mạch máu gián đoạn tức khắc. Nguyên cả vùng cơ tim phía sau chết hàng loạt, giải phóng chất men khiến chúng ta đau nhiều hơn. Hiện tượng đau này đầu tiên làm cho cơ tim bị rung thất, làm tụt huyết áp và đột tử. Thứ hai, nó gây ra huyết áp thấp, sốc tim; hoại tử cơ tim làm cho tim bị yếu chỗ đó, dưới áp lực bơm của tim thì gây nên tình trạng vỡ tim. Nếu vỡ bên ngoài sẽ khiến người bệnh tử vong, còn vỡ bên trong gọi là vỡ thủng vách liên thất. Sau này, cơ tim càng yếu nữa thì sẽ dẫn tới suy tim.
Như vậy, bệnh mạch vành mạn không gây suy tim nhiều, nhưng mạch vành cấp sẽ đe dọa tính mạng chúng ta. Theo thống kê, 1/3 người bị nhồi máu cơ tim sẽ tử vong tại chỗ mà không kịp đưa đến bệnh viện. 1/3 trường hợp tiếp theo chỉ đau sơ, hầu như không có biểu hiện gì, đến khi đo điện tim thấy sẹo nhồi máu thì mới phát hiện người này từng bị nhồi máu cơ tim. Chỉ khoảng 1/3 bệnh nhân tắc ở mạch trung bình, còn có cơ hội chạy đến bệnh viện để bác sĩ nong, giải phóng chỗ tắc để mạch máu lưu thông bình thường trở lại.
Có 3 yếu tố phân biệt bệnh mạch vành cấp và bệnh mạch vành mạn: cơn đau thắt ngực, nhịp tim và men tim. Trong đó, cơn đau thắt ngực chỉ có người bệnh mới cảm nhận được. Nên nếu bạn thấy xuất hiện cơn đau vùng ngực bên trái, có thể lan lên vùng hàm, thượng vị hoặc tay trái, mà cơn đau này kéo dài hơn 15 phút thì phải nghĩ tới khả năng nhồi máu cơ tim. Lúc này, phải chạy tới bệnh viện có khoa Thông tim để cấp cứu càng sớm càng tốt để tránh hậu quả. Vì cứ 1 giờ trôi qua là tỷ lệ tử vong tăng thêm 1% và tỷ lệ suy tim cũng tăng 1%.

Bệnh nhân có những dấu hiệu nào thì cần chẩn đoán xác định bệnh mạch vành? Phương pháp chẩn đoán bệnh là gì?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh mạch vành là đau ngực. Bệnh nhân có cảm giác nặng, tức hoặc đè nén ở vùng ngực trái, sau xương ức hoặc giữa ngực. Cảm giác này không rõ ràng ở một điểm mà cả một vùng. Ngoài ra, tình trạng đau này còn lan lên cổ, cằm, hai vai, tay trái, có khi lan ra sau lưng và xuống bụng (nhưng không quá rốn). Cơn đau thường xảy ra lúc bệnh nhân gắng sức, giảm khi ngồi nghỉ.
Triệu chứng thường gặp thứ hai của bệnh mạch vành là khó thở. Một số người lại có biểu hiện xây xẩm, choáng váng, hồi hộp, nhất là khi gắng sức.
Khi người bệnh xuất hiện những triệu chứng trên, bác sĩ sẽ thăm khám hỏi bệnh sử các yếu tố nguy cơ (như hút thuốc lá, tiền sử gia đình có người bị bệnh mạch vành, các bệnh lý đi kèm, rối loạn mỡ máu…). Bác sĩ sẽ nghe tim xem có nghe tiếng tim bất thường hay không, sau đó tiến hành các cận lâm sàng cần thiết như đo điện tim, chụp X-quang tim phổi, siêu âm tim. Ngoài ra còn có xét nghiệm máu (đường máu, chức năng thận, mỡ máu, men gan…) để đánh giá yếu tố nguy cơ của người bệnh.
Trong trường hợp người bệnh có các dấu hiệu bất thường trên điện tim, siêu âm tim, bác sĩ sẽ làm các xét nghiệm chuyên sâu hơn để chẩn đoán xác định bệnh mạch vành. Bệnh nhân có thể được làm trắc nghiệm gắng sức, điện tâm đồ gắng sức hoặc siêu âm tim gắng sức, chụp CT mạch vành có cản quang, chụp động mạch vành cản quang…
Xơ vữa động mạch là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh mạch vành. Vậy còn những nguyên nhân nào khác dẫn tới căn bệnh này?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
90% nguyên nhân gây ra bệnh mạch vành là do xơ vữa. Mà nguyên nhân dẫn tới xơ vữa là do khối LDL. Bên cạnh đó, còn các nguyên nhân khác là chế độ ăn uống, bệnh lý đi kèm… Ngoài ra còn do phản ứng viêm – tình trạng thường gặp ở những trẻ em bị bệnh Kawasaki hay Takayasu. Kawasaki là bệnh viêm tự miễn. Khi bệnh nhân sốt một thời gian thì 5, 10 năm sau, hiện tượng viêm vẫn âm ỉ làm cho mạch vành chỗ hẹp chỗ phình. Chúng tôi từng gặp những trường hợp bệnh nhân Kawasaki phát hiện hẹp mạch vành ở tuổi 16. Còn bệnh Takayasu thường gây hẹp mạch ngoại biên là chính, mạch vành ít hơn. Mạch không phình mà hẹp lan tỏa.
Cá biệt, có một bệnh hơi bất thường là tăng cholesterol gia đình. Người bệnh có gen tăng LDL cao và rất sớm, khiến mạch vành bị hẹp từ rất sớm.
Các phương pháp điều trị bệnh mạch vành đang được áp dụng hiện nay?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Để điều trị bệnh mạch vành, cần có sự kết hợp của 3 yếu tố: điều trị nội khoa, điều trị thông tim (nong mạch vành và đặt stent) và mổ bắc cầu. Trong điều trị nội khoa, trước tiên cần dùng thuốc hạ mỡ để giảm LDL. Thứ hai, phải giảm huyết áp xuống. Huyết áp càng cao sẽ càng làm cho mảng xơ vữa tăng lên. Nếu huyết áp thất thường, dòng máu đi mạnh quá sẽ làm bể/nứt mảng xơ vữa gây ra cơn nhồi máu cấp. Thứ ba, phải kiểm soát bệnh đái tháo đường. Bệnh này sẽ làm cho tế bào chết nhanh hơn, nhất là những tế bào nội mạc phía trong, tạo cơ hội cho những khối LDL xâm nhập vào trong thành mạch gây ra xơ vữa. Cuối cùng, ai cũng biết vòng bụng càng lớn thì vòng đời càng ngắn, nên phải giảm cân nếu có thừa cân – béo phì.
Về đặt stent, chúng ta chỉ nghĩ tới phương pháp này khi điều trị nội khoa không thể đáp ứng được nữa hoặc bị hẹp trên 70%. Có ba nhóm mạch vành, nếu chỉ tắc một hoặc hai nhánh thì đặt stent dễ, và đặt stent nội soi nên có thể đặt nhiều lần. Còn riêng phương pháp mổ bắc cầu, nó được áp dụng khi bệnh nhân bị tắc quá nhiều nhánh, chức năng tim đã suy yếu và không còn giải pháp nào khác ngoài mổ bắc cầu.
Cả ba phương pháp này kết hợp với nhau, có khi bệnh nhân đặt stent rồi sau đó mổ bắc cầu, hoặc mổ bắc cầu xong rồi đặt stent. Và dù có chọn phương pháp nào đi nữa thì nền tảng chính vẫn là điều trị nội khoa.
Lâu lâu ngồi xuống rồi đứng dậy đột ngột mà bị đau đầu, chóng mặt là hiện tượng gì, có liên quan đến bệnh mạch vành không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Khi ngồi xuống đứng lên, theo nguyên tắc thông thường thì cơ thể có hiện tượng tăng huyết áp. Nếu chúng ta ngồi lâu quá mà đứng lên đột ngột thì phản xạ này phải đủ sức, đủ nhanh mới bơm đủ máu, khiến chúng ta không chóng mặt. Còn trường hợp của bạn, có thể là do ngồi lâu quá nên khi đứng lên, phản xạ thần kinh không còn đủ sức để bơm lượng máu nuôi não, gây ra hiện tượng chóng mặt. Vì thế, lời khuyên dành cho những người bệnh tăng huyết áp là không đứng nhanh quá, không với tay lên cao… Những động tác này có thể khiến máu lên não không được cung cấp đầy đủ, từ đó dẫn tới chóng mặt, tai nạn té ngã.
Còn có phải bạn bị bệnh mạch vành không thì đây là một bệnh lý tiềm ẩn, theo thời gian sẽ tăng dần, có thể mỗi năm tăng 1%. Như vậy, xác suất bạn bị bệnh mạch vành ở tuổi 50 tuổi đã là 50%. Cơn đau điển hình của bệnh mạch vành mạn là cơn đau khi gắng sức với triệu chứng đau trước ngực, cảm giác bị đè nén, có thể lan ra thượng vị, hàm, vai và là cơn đau vùng.
Khi nằm xuống giường để nghỉ, tôi hay thấy đau nhói tim bên trái khoảng 10-15 giây, hiện tượng này xảy ra khoảng 10 ngày nay. Cứ khi nào nằm quay qua bên trái và ngáp ngủ là lại bị đau, còn quay qua phải thì không sao, tối nào cũng bị hiện tượng này. Xin bác sĩ tư vấn giúp!
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Đặc điểm của cơn đau này không điển hình của bệnh mạch vành. Cơn đau của bệnh mạch vành phải kéo dài từ 3-5 phút trở lên, hiếm khi xảy ra dưới 30 giây. Thường khi đau ngực mà ở một điểm dưới 30 giây là do nguyên nhân khác. Bên cạnh đó, đau khi xoay trở thường bắt nguồn từ thần kinh cơ xương ở lồng ngực nhiều hơn. Vì thế đối với trường hợp này, ít nghĩ tới nguyên nhân là do mạch vành. Bạn nên đến bệnh viện thăm khám, bác sĩ sẽ tìm nguyên nhân để điều trị phù hợp, ví dụ như cho uống thuốc kháng viêm, chống đông…

Tôi hay bị mất nhịp tim (đột nhiên không thở được, cảm giác tim ngừng đập) và sau đó trở lại thở bình thường. Mua máy đo độ oxy thì đôi lúc không bắt được nhịp oxy. Tình trạng của tôi có phải bệnh mạch vành không hay bệnh lý tim nào khác?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Bệnh của bạn liên quan đến nhịp tim. Đối với bệnh này, người ta sẽ đo điện tim để phân tích được nhịp nhanh, nhịp chậm, nhịp ngoại tâm thu thất, ngoại tâm thu nhĩ, cơn nhịp nhanh. Còn một phương pháp nữa là đo điện tim 24h bằng máy Holter ECG. Máy có kích thước nhỏ, dễ dàng đeo bên mình, sẽ cho kết quả nhịp tim nhanh bao nhiêu, chậm bao nhiêu, lúc mấy giờ lên cơn mất nhịp và cơn này có quá 3 giây hay không. Nếu quá 3 giây thì là hiện tượng tim nghỉ 3 giây, não cũng sẽ bị ảnh hưởng, có thể gây ra đột quỵ. Trường hợp này, bác sĩ sẽ chỉ định đặt máy tạo nhịp để tránh hiện tượng tim nghỉ quá lâu.
Trong khi đo, có thể thấy được tình trạng ngoại tâm thu thất hay ngoại tâm thu nhĩ. Tổng kết lại trong vòng 24 giờ, kết quả ngoại tâm thu (1%, 2%, 10%…) càng cao thì khả năng loạn nhịp dẫn tới suy tim (suy tim do nội tâm thu hay suy tim do loạn nhịp) sẽ tăng lên. Khi tỷ lệ này cao, bác sĩ có chỉ định làm điện sinh lý, dùng những điện cực thăm dò ở trong để tìm được ổ nào phát nhịp. Đặc biệt, người ta phải dò từng điểm một để khu trú nó, dùng điện cực có tần số sóng radio áp vào vùng đó làm cho nó tái nhẹ nhưng có thể hủy được ổ phát nhịp tại đó. Đây chính là động tác cắt đốt điện sinh lý để triệt ổ gây loạn nhịp. Trong trường hợp chưa đến giai đoạn trầm trọng này thì hướng điều trị phù hợp là uống các loại thuốc dạng beta để ngăn ngừa những cơn nhịp đó, giúp tim đập đều hơn.
Mẹ tôi năm nay 60 tuổi, ban đầu siêu âm mạch cảnh thì có xơ vữa 50%. Bác sĩ cho dùng Crestor 20mg trong vòng 2-3 tháng, siêu âm lại thì hết mảng xơ vữa. Xét nghiệm công thức máu đã trở về chuẩn bình thường, siêu âm tim và nhịp tim bình thường. Tuy nhiên, về đêm mẹ thỉnh thoảng có cơn nhói tim hoặc giật mình, nặng cánh tay bên trái. Như vậy trường hợp của mẹ tôi có khả năng bị bệnh mạch vành hay không? Triệu chứng đó có nguy hiểm không? Làm thế nào cải thiện?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Mẹ của bạn đã có tình trạng xơ vữa động mạch. Khi mẹ bạn có những triệu chứng nhói ngực, nhói tim thì cần tầm soát bệnh mạch vành và cả bệnh động mạch ngoại biên chi dưới. Những bệnh lý này có chung một nguồn gốc là xơ vữa động mạch. Bạn nên đưa mẹ đến bệnh viện thăm khám, đo điện tim, siêu âm tim, làm một số trắc nghiệm gắng sức, chụp CT mạch vành để xác định có bệnh lý mạch vành hay không, từ đó mới có cách điều trị phù hợp.
Với tình trạng hẹp động mạch chưa nhiều nhưng có xơ vữa, bác sĩ phải dựa vào mức LDL cholesterol để điều trị. Người bệnh có thể phải uống thuốc để giảm cholesterol máu lâu dài, không chỉ 3 tháng rồi ngưng, mặc dù siêu âm lại không thấy mảng xơ vữa nhưng siêu âm cũng thường xảy ra sai lệch. Do vậy, mục tiêu điều trị cần dựa vào LDL cholesterol là chính.
Tôi muốn chụp CT động mạch vành nhưng bị dị ứng với i-ốt nên không chụp cản quang được. Tôi nghe nói BVĐK Tâm Anh có máy chụp CT hiện đại, có thể chụp CT động mạch vành không cần cản quang hoặc có biện pháp chụp khác phải không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Trong CT mạch vành, điều khó khăn nhất là dị ứng thuốc cản quang. Nếu bạn đã dị ứng với thuốc cản quang rồi thì bác sĩ cũng không cho chỉ định chụp. Bạn có thể chụp không cản quang, nhưng biện pháp này chỉ quét và đếm điểm vôi hóa trên hệ thống mạch vành. Điểm vôi hóa cho thấy tại đó có tế bào chết đi và có mảng xơ vữa thành lập. Nếu đếm trên 100 điểm thì có khả năng bị bệnh mạch vành, con số ngày càng lớn thì xác suất bị bệnh càng cao. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ giúp xác định có bệnh mạch vành hay không chứ không biết nhánh nào bị hẹp như phương pháp chụp có cản quang.
Với những bệnh nhân cấp cứu, bắt buộc phải xác định đoạn mạch bị hẹp, bác sĩ có thể cân nhắc tiêm corticoid. Thế nhưng, cần cân nhắc lợi – hại trước khi tiến hành vì biện pháp này có nguy cơ xảy ra dị ứng dẫn đến tử vong, xác suất sốc phản vệ là 1/25.000 ca.
Tôi bị đau ngực, chụp CT phát hiện cầu cơ LAD3 gây hẹp 70% lòng mạch vành, thời tâm thu, thời tâm trương bình thường, không có hiện tượng xơ vữa động mạch. Các nguyên nhân khác gây đau ngực cũng đã được loại trừ. Bác sĩ chỉ định uống Vastarel 35mg và Aspirin 81 để giảm đau ngực. Tôi dùng khoảng 3 tháng nay, có thấy đỡ đau nhưng không hết hẳn, có hôm đau hơn khi thời tiết thay đổi, đặc biệt là những lúc độ ẩm không khí cao. Tôi có thể dùng thuốc gì để cải thiện tình hình? Bệnh của tôi có dẫn đến suy tim hay nhồi máu cơ tim không? Có phải đặt stent không? Năm nay tôi 55 tuổi.
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
LAD là tên viết tắt của động mạch liên thất trước. Đây là một nhánh động mạch vành bên trái, chia ra 1 là đoạn gần, 2 là đoạn giữa, 3 là đoạn xa. Còn cầu cơ là động mạch vành chui vào cơ tim thay vì nằm ở thượng mạc của trái tim. Khi cơ tim co bóp có thể làm hẹp động mạch. Để điều trị trường hợp này, nếu bệnh nhân có triệu chứng, bác sĩ sẽ dùng các nhóm thuốc chẹn beta để làm giảm co bóp cơ tim, từ đó mức độ hẹp sẽ giảm xuống và triệu chứng cũng giảm theo.
Khi điều trị với nhóm thuốc chẹn beta, bác sĩ sẽ cần biết những đặc điểm của bệnh nhân về mặt nhịp tim, huyết áp, có các bệnh lý dị ứng về thuốc hay hen suyễn hay không. Do đó, tôi chưa thể nói chính xác bạn cần dùng thuốc gì. Bạn nên đến gặp bác sĩ để được thăm khám và điều trị tốt nhất.
Nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim do cầu cơ nhánh động mạch vành đoạn xa khá hiếm gặp. Còn việc đặt stent, thường bác sĩ sẽ đặt stent ở bệnh nhân bị xơ vữa, mảng xơ vữa mềm, vôi hóa, khi nong ra thì stent vẫn được giữ chắc, mạch máu không hẹp lại. Đối với trường hợp cầu cơ mạch máu chui giữa hai nhánh cơ, sự co bóp của tim sẽ làm hẹp stent và có nguy cơ gây tắc. Vì vậy, hiếm khi trong bệnh cầu cơ chúng tôi đặt stent. Bạn cứ yên tâm điều trị nội khoa cho hết triệu chứng.
Tôi 68 tuổi, bị động mạch vành hẹp 80% mạch nhỏ, đái tháo đường. Đi khám bác sĩ bảo không đặt stent được, cho sử dụng các thuốc sau: Duoplavin 75 mg/100 mg; Concor 5mg; Rosuvastatin 10mg; Coversyl. Vậy nếu không can thiệp stent được thì còn có biện pháp can thiệp khoa học nào khác không? Cách điều trị bệnh mạch vành hẹp 80% để có hiệu quả cao nhất?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Bệnh mạch vành là bệnh lý suốt đời, có 3 biện pháp điều trị là điều trị nội khoa, nong, mổ bắc cầu. Đối với phương pháp đặt stent, người ta không nhắm vào nhóm nhỏ vì hiệu quả không cao, nếu có đặt cũng sẽ nghẹt lại. Vì thế, trong ngành thông tim thường để ý những nhóm lớn như động mạch liên thất trước (LAD), động mạch mũ, mạch vành phải. Cho nên, trường hợp của bạn không nên đặt stent mà nên điều trị nội khoa.
Trong điều trị nội khoa, LDL là nguyên nhân chính gây bệnh nên dùng Rosuvastatin 10mg là chưa đủ. Bạn có thể tăng liều thuốc lên để giảm chỉ số LDL. Bên cạnh đó, cần kiểm soát huyết áp, có chế độ ăn uống, tập luyện hợp lý để chống lại sự thoái triển mạch máu, kéo dài tuổi thọ song song với điều trị nội khoa.

Trong điều trị mạch vành, ngoài các thuốc huyết động được bác sĩ chỉ định, có nên mua thêm thuốc bổ tim, tăng chuyển hóa tim hoặc thực phẩm chức năng không? Liệu chúng có thực sự có ích không?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Về thuốc điều trị bệnh mạch vành thì theo các khuyến cáo của Mỹ và châu Âu, các nhóm thuốc chính thường được bác sĩ kê đơn bao gồm: thứ nhất là nhóm Statin để hạ mỡ máu, thứ hai là thuốc chống kết tập tiểu cầu để chống các cục máu đông trong lòng mạch vành, thứ ba là men chuyển, thứ tư là các thuốc giảm đau ngực như chẹn beta, ức chế canxi. Đây là những loại thuốc có nghiên cứu chứng minh rõ ràng và khuyến cáo nên sử dụng lâu dài dưới sự theo dõi của bác sĩ. Với thực phẩm chức năng thì bác sĩ không rõ nên không đưa ra tư vấn.
Mẹ em bị hẹp động mạch vành, đã đặt 2 stent vào năm 2018. Từ khi đặt stent, sức khỏe của mẹ ổn định, gần như hết hẳn triệu chứng bệnh. Tuy nhiên khoảng 2 tháng nay, mẹ có biểu hiện loạn nhịp tim, có khi nhịp tim vọt lên hơn 100, có lúc tụt xuống dưới 50. Đây có phải biến chứng của bệnh mạch vành không? Và mẹ em có khả năng phải đặt lại stent hay không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Nhịp tim có lúc nhanh lúc chậm, y khoa gọi là hội chứng nhịp nhanh nhịp chậm, đây là bệnh về nhịp hệ thống dẫn chuyền chuyển động của tim. Hệ thống này cũng liên đới với mạch máu nuôi tim. Thông thường với bệnh nhịp tim, bác sĩ sẽ tiến hành test xem bệnh nhân có suy nút xoang không, tiếp đó làm điện sinh lý xem có cần đặt máy không (đặt máy tạo nhịp để giúp nhịp không rớt xuống dưới mức 60). Sau khi đặt máy sẽ phối hợp thuốc giảm nhịp tim là chẹn beta. Khi nhịp tim nhanh lên, bác sĩ sẽ cho dùng thuốc để nhịp tim giảm xuống, nhưng không được vượt quá nhịp của máy. Như vậy, việc kết hợp giữa máy và thuốc chẹn beta rất an toàn.
Thông thường, các bác sĩ cũng chụp mạch vành để xem đoạn mạch đã thông tốt chưa. Trong trường hợp vừa có suy nút xoang vừa hẹp mạch vành, bác sĩ sẽ tích hợp đặt máy và nong mạch vành trong lúc làm thông tim.
Vì sao phải tiến hành trắc nghiệm gắng sức cho người bệnh mạch vành? Bố em bị hẹp động mạch vành, trong các chẩn đoán cận lâm sàng có cả bài trắc nghiệm gắng sức. Nhưng bố đã lớn tuổi, không thể chạy bộ trên thảm lăn nên bác sĩ chỉ định ra về, vài ngày sau lên thực hiện lại. Em băn khoăn không biết bệnh của bố có cần làm kiểm tra này không, và nếu bố em vẫn không thể chạy trên thảm lăn thì có cách nào khác kiểm tra không?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Trong các trắc nghiệm để chẩn đoán xác định bệnh mạch vành thì có bài trắc nghiệm gắng sức. Trong trắc nghiệm gắng sức có hai loại là: điện tâm đồ gắng sức thảm lăn, có nghĩa là người bệnh chạy trên thảm lăn, gắn các điện cực ở trên người để theo dõi sự thay đổi của nhịp tim, điện tim khi gắng sức; Phương pháp thứ hai là siêu âm tim gắng sức, có nghĩa là người bệnh không chạy mà chỉ nằm trên giường, và bác sĩ sẽ truyền các thuốc để kích thích tăng nhịp tim lên. Lúc đó, chúng ta sẽ quan sát điện tim cũng như hình ảnh co bóp của tim trên siêu âm. Mục tiêu của trắc nghiệm gắng sức là để chẩn đoán xác định có hẹp động mạch vành hay không, có thiếu máu cơ tim không. Đối với siêu âm tim gắng sức thì còn xác định được vùng cơ tim bị thiếu máu.
Trường hợp bệnh nhân lớn tuổi không thể chạy gắng sức trên thảm lăn, bác sĩ sẽ chỉ định làm siêu âm tim gắng sức. Về nguyên tắc của trắc nghiệm gắng sức, nghĩa là lúc mình đo điện tim bình thường thì tim không có triệu chứng nhưng khi mình gắng sức, tim làm việc nhiều hơn thì nhịp tim tăng lên. Nếu mạch vành có hẹp thì bệnh nhân sẽ có triệu chứng, có thiếu máu cơ tim cũng sẽ lộ ra trên điện tâm đồ hoặc trên co bóp cơ tim khi làm siêu âm tim. Tóm lại, nguyên tắc của trắc nghiệm gắng sức là làm sao cho nhịp tim tăng lên. Nếu bệnh nhân chạy được thì nhịp tim tăng tự nhiên, nếu không thể chạy thì bác sĩ sẽ truyền Dobutamin – một loại thuốc làm tăng nhịp tim cho người bệnh.
Trường hợp bố của bạn không thể chạy, bạn có thể đề nghị bác sĩ tiến hành biện pháp khác, đó chính là siêu âm tim gắng sức cho bố.
Những nguy cơ có thể gặp phải khi đặt stent mạch vành trên bệnh nhân cao tuổi? Hiện tôi 60 tuổi.
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Phương pháp đặt stent chỉ được chỉ định trong các trường hợp mạch vành bị hẹp nhiều. Trong phòng thông tim, có hai câu hỏi đặt ra: mạch vành hẹp bao nhiêu phần trăm? Tình trạng hẹp có gây ra hiện tượng thiếu máu, giảm máu nuôi vùng đó hay không? Ngoài ra còn có thêm một trắc nghiệm nữa: bệnh nhân nằm trên bàn để đo phân suất dự trữ mạch vành, tức là dùng dây dẫn đo huyết áp ở đoạn trước và đoạn sau của chỗ hẹp. Nếu ở phía trước là 100, phía sau giảm còn 80 thì tỷ lệ FFR là dưới 0,8. Lúc đó có khả năng mạch máu bị giảm tưới máu. Nếu còn chần chừ không điều trị, khi mạch máu tắc thì cơ tim sẽ bị hoại tử, dẫn tới suy tim. Do đó, nên nong mạch máu trước khi mạch bị tắc.
Thủ thuật nong mạch vành đã phát triển từ năm 1977, cho đến nay đã hoàn chỉnh. Tỷ lệ biến chứng của thủ thuật là dưới 1%. Các biến chứng có thể gặp phải là: Thứ nhất, nong mạnh quá sẽ làm thủng mạch vành. Thứ hai, stent là vật thể lạ, khi đặt vào mạch vành sẽ có nguy cơ gây ra hiện tượng máu đông ở chỗ đặt stent. Do đó khi đã đặt stent mạch vành, người bệnh phải uống hai loại thuốc kháng đông: Aspirin và Plavix, có nghĩa là phải có hai chất kết tập tiểu cầu và thời gian chuẩn là 12 tháng. Có nhiều người uống nửa chừng rồi ngưng, làm tắc stent dẫn tới biến chứng nhồi máu.
Việc uống thuốc kháng đông lâu dài có thể gây ra tình trạng cồn cào dạ dày. Đối với những người có bệnh lý dạ dày, bác sĩ thường kê thêm thuốc kháng axit nhằm giảm tác dụng của hai loại thuốc kháng đông đối với dạ dày. Sau thời gian 12 tháng, bác sĩ có thể cân nhắc gia giảm lại còn một loại thuốc thôi.
Tôi năm nay 42 tuổi, bị bệnh mạch vành đã đặt 2 stent tại bệnh viện được một năm. Sau khi đặt stent, tôi hay bị sốt, hầu như tháng nào cũng bị từ một đến hai lần. Không biết có phải vì tôi đặt stent nên sức đề kháng kém đi không? Việc dùng thuốc Tây kéo dài ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của tôi? Bản thân tôi bị cao huyết áp, mỡ máu. Bác sĩ có kê thuốc cao huyết áp nhưng có khi tôi bị hạ huyết áp. Tôi nghe nói bệnh của tôi dễ bị nhồi máu cơ tim nên rất lo lắng. Mong bác sĩ tư vấn giúp.
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Hiện y văn chưa ghi nhận về tác dụng phụ hay hậu quả lâu dài của đặt stent là giảm miễn dịch hay sốt kéo dài. Tuy nhiên đối với người có bệnh tim mạch, huyết áp hay rối loạn mỡ máu, bác sĩ thường khuyến cáo tiêm ngừa cúm và viêm phổi phế cầu. Nguyên nhân là người có bệnh tim mạch dễ bị cảm, dễ nhiễm siêu vi, viêm phổi, nếu tiêm ngừa đầy đủ có thể làm giảm nguy cơ này.
Về các loại thuốc huyết áp thì hầu như không có tác dụng phụ cũng như ít khi gây ra hiện tượng lờn thuốc. Tuy nhiên, một số người uống thuốc điều trị bệnh mạch vành lâu sẽ bị viêm, loét hoặc chảy máu dạ dày, chảy máu đường ruột. Tác dụng phụ này rất thường gặp, nên nếu uống thuốc chống kết tập tiểu cầu mà có triệu chứng đau thượng vị hoặc đau sau xương ức thì bạn cần báo với bác sĩ để kiểm tra dạ dày, nội soi xem có nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) không. Những người nhiễm HP sẽ bị xuất huyết dạ dày khi uống thuốc chống kết tập tiểu cầu.
Đối với vấn đề bạn uống thuốc huyết áp thì huyết áp có khi xuống thấp có khi lên cao, việc này bạn nên trao đổi với bác sĩ điều trị của mình để điều chỉnh liều lượng phù hợp. Có những người huyết áp 110-120 không có triệu chứng gì, nhưng người khác cùng mức huyết áp đó lại cảm thấy chóng mặt, khó chịu. Ngoài ra trong quá trình điều trị, nếu bạn có chế độ ăn tốt, tập thể dục đều đặn, duy trì cân nặng ổn định thì số lượng thuốc huyết áp sẽ giảm theo thời gian.
Bố em 66 tuổi, bị tăng huyết áp mạn hơn 10 năm nay, đái tháo đường phát hiện năm 2020. Trước bố hút thuốc lá rất nhiều, khoảng nửa gói/ngày nhưng từ khi bị huyết áp đã giảm xuống còn 2-3 điếu/ngày. Bố đã thử cai thuốc mấy lần nhưng không được. Em được biết tình trạng bệnh của bố có nguy cơ phát triển thành rất nhiều bệnh lý nguy hiểm như bệnh mạch vành, COPD… Vậy cho em hỏi có biện pháp nào giúp ngăn ngừa tình trạng này không? Ngoài hút thuốc thì bố sinh hoạt ăn uống rất điều độ.
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Ngay cả bạn cũng biết hút thuốc lá có hại. Khói thuốc lá sẽ gây ra những hạt nhỏ li ti, có thể vào tận động mạch vành, kích thích và gây ra hiện tượng vỡ mảng xơ vữa. Bạn nên khuyên bố giảm hút thuốc lá từ từ và tiến tới bỏ hẳn.
Về các biện pháp giúp ngăn ngừa bệnh mạch vành, đầu tiên phải bỏ thuốc lá, tiếp theo là kiểm soát huyết áp, mỡ máu, kiểm soát bệnh lý đái tháo đường (giảm chỉ số đường huyết xuống dưới 6mmol/L). Cuối cùng là tuân thủ chế độ ăn uống và tập luyện khoa học.
Cháu mới 18 tuổi, cao 1m67 nặng 75kg, hay đau thắt ở ngực, cảm giác lồng ngực cứ như có ai đó bóp chặt, đè nén với một áp lực rất lớn. Đây có phải triệu chứng bệnh mạch vành không? Người thừa cân có nguy cơ bị bệnh mạch vành hơn không? Cháu nên đi kiểm tra những gì?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Để chẩn đoán bệnh mạch vành phải dựa vào tuổi tác, các yếu tố nguy cơ và đặc điểm của cơn đau ngực. Bạn mới 18 tuổi, còn trẻ nên khả năng bệnh mạch vành không cao. Có một số nguyên nhân gây đau ngực, chẳng hạn như bệnh lý về tim bẩm sinh ở người trẻ hoặc các bệnh lý về dị dạng mạch vành.
Nếu có biểu hiện đau ngực, bạn nên đi kiểm tra, ít nhất là đo điện tim, siêu âm tim một lần để loại trừ các bệnh lý tim mạch ở người trẻ tuổi. Béo phì là yếu tố nguy cơ cao của bệnh mạch vành, còn hơn cả cao huyết áp và đái tháo đường. Tôi từng gặp nhiều trường hợp bệnh nhân còn trẻ đã mắc bệnh mạch vành do bị béo phì. Cho nên, tôi khuyên bạn giảm cân càng sớm càng tốt.
Khi người thân bị cơn đau ngực do bệnh mạch vành cấp thì nên làm gì để sơ cứu trước khi đưa họ vào viện? Có cách nào giảm thiểu tối đa những hậu quả do bệnh gây ra không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Cơn mạch vành cấp có triệu chứng đau ngực khủng khiếp. Lúc này, có thể cho người bệnh ngậm Nitroglycerin dạng xịt hoặc ngậm. Trong trường hợp không có sẵn thuốc, đừng nên loay hoay đi tìm thuốc mà cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế có thông tim. Bác sĩ sẽ tiến hành lưu thông dòng máu nhằm giảm nguy cơ tử vong, giảm suy tim. Trên đường đi đến bệnh viện, có thể gặp phải biến chứng rung thất làm ngưng tim. Khi đó, phải đấm vào ngực của người bệnh 3 cái thật mạnh hoặc hà hơi thổi ngạt, hô hấp nhân tạo. Việc làm này sẽ giúp tránh được tình trạng tim bị ngưng quá lâu, dù có đến bệnh viện cũng không thể cứu được.
Tôi năm nay 59 tuổi, thỉnh thoảng vào 1-2h đêm tự nhiên tôi tỉnh giấc, thấy tim mình đập rất nhanh, mồ hôi toát ra. Đi khám ở bệnh viện tỉnh thì bác sĩ nói không có bệnh lý gì. Liệu hiện tượng này có bình thường không?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Trong khi ngủ ban đêm, có thể bạn chiêm bao, gặp ác mộng nên xuất hiện đợt tim đập nhanh. Hoặc bạn thực sự có rối loạn nhịp xảy ra vào ban đêm, tuy nhiên đi khám thì bác sĩ ở bệnh viện tỉnh lại nói bình thường. Đó là do lúc bạn đi khám là đã ngoài cơn loạn nhịp. Vì thế, đo điện tim hay siêu âm tim các bác sĩ sẽ không thấy gì bất thường. Trong trường hợp này, bạn nên đến những bệnh viện chuyên về tim mạch để khám, có thể đeo máy Holter ECG 24h, 48h hoặc 7 ngày. Bác sĩ xem kết quả sẽ xác định bạn có cơn loạn nhịp gì không, từ đó có biện pháp điều trị phù hợp.
Tôi bị hẹp động mạch vành, có phẫu thuật thăm dò 67%. Bác sĩ chưa đặt stent nhưng cho uống thuốc, dặn hạn chế ăn thịt mỡ, đồ nướng, đồ chiên xào. Vậy nếu tôi tuân thủ điều trị nội khoa và kiêng cữ theo chỉ dẫn thì liệu bệnh có được kiểm soát và sau này tôi không cần đặt stent không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Bạn bị hẹp động mạch vành 67%, nếu không can thiệp gì, để lượng mỡ cao thì chắc chắn tỷ lệ hẹp sẽ tăng. Nếu còn kèm thêm yếu tố cao huyết áp, đái tháo đường thì dự đoán mỗi năm tăng 2%. Như vậy sau 6 năm sẽ tăng lên đến 80%, lúc đó buộc phải nong mạch vành.
Hiện tại, để giảm tỷ lệ hẹp mạch vành, có thể bạn cần dùng thuốc giảm mỡ rất mạnh. Cần hạ chỉ số LDL xuống dưới 70% thì mới giảm hẹp được khoảng 2%, LDL xuống 50% thì giảm hẹp được 5%. Muốn vậy, bạn nên hạn chế ăn các món chiên xào, nướng, thịt đỏ, nước hầm xương, nước béo, da, nội tạng…
Em không có bệnh nền về tim mạch nhưng hôm đi tiêm vaccine Covid-19 về, em bị tim đập nhanh, ban đêm khi đi ngủ bị đánh trống ngực, ngủ không được sâu giấc. Tình trạng này là do em tiêm vaccine bị tác dụng phụ hay em có vấn đề về tim mạch?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Có khá nhiều bệnh nhân (cả người trẻ tuổi và người cao tuổi) sau khi tiêm vaccine Covid-19 trong vòng 1- 2 tuần đầu thường có cảm giác hồi hộp, tim đập nhanh, mất ngủ, toát mồ hôi… Nếu bạn cũng có những triệu chứng này, khả năng là do tác dụng phụ của vaccine. Tuy nhiên nếu triệu chứng kéo dài, bạn nên đi khám, kiểm tra tim mạch xem có bệnh lý gì không. Nếu những triệu chứng này khiến bạn khó chịu, bác sĩ sẽ kê toa một số loại thuốc trong thời gian ngắn để ổn định trở lại.
Ba em năm nay 64 tuổi, mới đặt stent động mạch vành loại phủ thuốc. Loại stent này tồn tại được bao lâu? Có nguy cơ gì không? Và có lưu ý gì với người đặt stent hay không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Trong giai đoạn đầu sau khi nong mạch vành bằng bóng, mạch máu sẽ giãn ra nhưng người ta thấy nó có xu hướng co lại. Từ năm 1977-1981 là giai đoạn chỉ nong bằng bóng, tỷ lệ tái hẹp là 40%. Nguyên nhân thứ nhất là do mạch máu co lại, thứ hai là tăng sinh lớp nội mạc ở đó theo cơ chế lành sẹo của vết thương, thứ ba là hiện tượng tái cấu trúc cho nhỏ lại của mạch máu. Từ đây, người ta mới nghĩ ra việc chống đỡ bằng khung thép, đặt khung thép vào thì giải quyết được nguyên nhân thứ nhất và thứ ba. Còn vấn đề tăng sinh lớp nội mạc theo cơ chế lành sẹo của vết thương, người ta phủ lên stent chất phủ thuốc. Đây là chất chống ung thư, chống sự lành sẹo. Nhờ đó cải thiện rõ rệt sự tái hẹp từ 40% xuống 20%, đến stent phủ thuốc thì chỉ còn 5%.
Như vậy rõ ràng, stent phủ thuốc lộ ra lâu hơn so với stent không phủ thuốc. Điều quan trọng nhất là phải uống hai loại thuốc kháng kết tập tiểu cầu theo điều kiện chuẩn là uống trong 1 năm.
Tỷ lệ tái hẹp dù chỉ có 5% nhưng vẫn là nguy cơ. Sau 1 năm đặt stent phủ thuốc, nếu bệnh nhân có đau tức ngực là đã có khả năng tái hẹp. Trường hợp đó cần đi kiểm tra, bác sĩ có thể tiến hành biện pháp chạy gắng sức, chụp CT. Nếu phát hiện có tái hẹp thì nong lại lần nữa bằng stent khác hoặc bóng phủ thuốc nhằm chống lại sự tái hẹp.
Mẹ em 65 tuổi, vừa bị cao huyết áp, vừa bị tĩnh mạch và Parkinson. Mẹ em nặng 68kg, mỗi chiều đều đi bộ ít nhất 30 phút. Gần đây mẹ vẫn đi bộ nhưng cứ được 15 phút lại khó chịu, ngồi nghỉ một lúc mới đi tiếp được, do nhịp tim đập nhanh đến 90, có lúc hơn 100. Tình trạng của mẹ em như vậy có nguy hiểm không? Mẹ cần làm những bước thăm khám như thế nào?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Trường hợp của mẹ bạn xuất hiện triệu chứng giảm khả năng gắng sức. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, chẳng hạn như bệnh mạch vành, suy tim hoặc bệnh lý về thần kinh như Parkinson. Để chẩn đoán, bạn nên đưa mẹ đến bệnh viện để xem huyết áp đã được kiểm soát tốt hay chưa, có bệnh lý mạch vành đi kèm không và bệnh Parkinson tiến triển như thế nào, từ đó mới có điều trị phù hợp.
Trường hợp người lớn tuổi đi bộ hạn chế như mẹ bạn thì ngoài siêu âm, đo điện tim, chụp X-quang, bác sĩ có thể chỉ định chụp CT mạch vành.

Mẹ em 45 tuổi, bị bệnh mạch vành hai năm nay, lại mới khỏi Covid-19. Em nên chăm sóc mẹ thế nào để bệnh không tiến triển nặng thêm? Bao lâu sau khi khỏi Covid-19 thì mẹ nên đi khám và cần khám những gì?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Covid-19 có thể gây ra tình trạng đông máu, nhồi máu cơ tim nhưng là trong lúc bị bệnh, còn hiện tại mẹ bạn đã khỏi bệnh. Do đó, bạn có thể giảm bớt nỗi lo về biến chứng đông máu trong bệnh mạch vành. Vấn đề còn lại là hậu Covid-19, mẹ bạn cần có chế độ ăn uống và tập luyện phù hợp để lấy lại cân bằng sức khỏe. Tôi có đề ra khẩu hiệu 8 con số, để bệnh nhân biết mình nên ăn đa dạng và phong phú các loại thực phẩm. 8 con số đó là 5-4-3-2-2-2-1-1, nghĩa là trong một ngày mỗi người cần ăn đủ: 500ml sữa – 400g rau – 300g trái cây – 200g cá thịt – 200g cơm bột – 2 lít nước – 1 quả trứng – 1 thìa canh dầu oliu/dầu mè/dầu hướng dương… Ngoài ra, phải tập luyện đều đặn để các dưỡng chất khi vào cơ thể sẽ đi đến nơi cần đến, bù đắp lại những nơi nào thiếu hụt, từ đó phục hồi những tổn thương do Covid-19 gây ra.
Tôi đã được nong thăm dò hẹp động mạch vành, hiện đang uống thuốc kháng tiểu cầu giúp tránh tắc mạch vành và thuốc hạ mỡ máu làm ổn định mảng xơ vữa, tránh tiến triển nặng. Tuy nhiên, gần đây tôi phát hiện mình bị thêm bệnh cao huyết áp và suy thận độ 1. Vậy các loại thuốc tôi đang uống có cần điều chỉnh gì hay không? Nếu tôi uống thêm các loại thuốc để điều trị hai bệnh mới thì có làm giảm tác dụng của các loại thuốc tôi đang uống không?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Khi bạn có bệnh mạch vành và bây giờ xuất hiện thêm tăng huyết áp, việc điều trị tăng huyết áp cần tích cực vì huyết áp cao là yếu tố nguy cơ làm bệnh mạch vành tiến triển. Cho nên, bên cạnh thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc hạ mỡ máu, bạn cần sử dụng thêm thuốc hạ huyết áp.
Ngoài ra, bạn còn có thêm bệnh thận. Đối với bệnh thận giai đoạn sớm, khi khám với bác sĩ tim mạch, bạn cần thông báo với bác sĩ để sử dụng các loại thuốc hạ áp, thuốc tim mạch có lợi cho thận, bảo vệ thận. Huyết áp cao, suy thận là những yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành, nên bạn cần kiểm soát tốt hai bệnh lý này.
Uống thuốc điều trị huyết áp hay bệnh thận không làm giảm tác dụng của thuốc chống kết tập tiểu cầu và thuốc giảm mỡ máu. Vì thế, bạn có thể yên tâm uống chung thuốc huyết áp với các loại thuốc trị bệnh mạch vành.
Tôi bị bệnh động mạch vành và sau khi đi khám, tôi được đề nghị dùng Aspirin suốt đời. Liệu dùng Aspirin một khoảng thời gian dài như vậy có ảnh hưởng gì đến sức khỏe không?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Khi dùng Aspirin kéo dài, ai cũng sợ thuốc sẽ ảnh hưởng xấu tới dạ dày. Để tránh hiện tượng đó, người có bệnh dạ dày sẽ được khuyên dùng thuốc kháng axit như Pantoprazole. Tuy nhiên, dùng thuốc này lại sợ tác dụng phụ là teo niêm mạc dạ dày. Do đó, người ta nghĩ ra cách dùng 3 tháng Pantoprazole, sau đó đổi sang thuốc kháng histamin H2, rồi 3 tháng sau đổi trở lại. Cách làm này sẽ giúp giảm ảnh hưởng của Aspirin đối với dạ dày.
Mọi người thường có suy nghĩ là khi bị bệnh tim mạch thì cần hạn chế vận động mạnh. Điều này có đúng hay không? Cần lưu ý gì đối với chế độ tập luyện của bệnh nhân mạch vành?
BS.CKII Huỳnh Ngọc Long:
Trong bệnh mạch vành, người ta chia làm hai loại. Loại thứ nhất là hẹp nặng, đã xác định rõ ràng là hẹp ở thân trung, hẹp rất khít, hẹp nặng… mà chưa được giải quyết. Những trường hợp này nếu bệnh nhân vận động mạnh thì động mạch có thể vỡ, gây nhồi máu cơ tim. Loại thứ hai là hẹp nhẹ hoặc chưa hẹp, chưa xác định hẹp bao nhiêu, ít nguy hiểm hơn.
Về lời khuyên khi vận động, người bệnh mạch vành cần ghi nhớ nguyên lý: nếu tập mạnh quá thì dễ gây biến chứng, còn không tập thì không có lợi, thậm chí có hại. Như vậy, trước tiên phải chọn hình thức tập vừa sức mình, sau đó tăng dần cường độ tập. Ví dụ lúc đầu đi bộ 5 phút, sau đó lên 6 phút, nếu tốt thì tăng tiếp lên 7 phút. Kiên trì như vậy mỗi ngày sẽ tốt cho sức khỏe, đồng thời tránh được nguy cơ khi tập quá sức.
Dạo này em bị nhói ngực trái khi hít thở, nếu dừng lại hít thở chậm thì hết nhói. Vậy triệu chứng này cảnh báo bệnh gì và có nguy hiểm không?
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều:
Triệu chứng nhói khi bệnh nhân hít thở có thể gặp trong nhiều bệnh lý như bệnh tim, bệnh phổi, bệnh dạ dày – thực quản, bệnh cơ xương thần kinh của thành ngực… Triệu chứng bạn mô tả nghiêng về bệnh cơ xương thần kinh của thành ngực hoặc bệnh của màng phổi. Để chẩn đoán chính xác, bạn nên đến bệnh viện khám, chụp X-quang, thử máu, đo điện tim… để tìm ra nguyên nhân nhói ngực khi hít thở. Nếu triệu chứng chỉ thoáng qua rồi hết thì không cần, còn nếu kéo dài thì nên đi thăm khám.
Ba em 73 tuổi, bị nhồi máu cơ tim cấp, có đái tháo đường tuýp 2, huyết áp cao. Ba có hút thuốc lá. Đi khám bác sĩ chẩn đoán ba bị mạch vành và có cục máu đôn