
Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ, nhiều loại thuốc phòng ngừa ung thư vú được ra đời, giải quyết phần nào nỗi lo của chị em, nhất là chị em có nguy cơ cao. Vậy có nên sử dụng thuốc phòng ngừa ung thư vú? Thuốc phòng ngừa ung thư vú có tác dụng và chỉ định ra sao? Cần lưu ý gì khi sử dụng? Bài viết dưới đây của thạc sĩ bác sĩ Nguyễn Đỗ Thùy Giang, Trưởng khoa Ngoại Vú, BVĐK Tâm Anh TP.HCM sẽ giải đáp chi tiết các vấn đề trên.

Thuốc phòng ngừa ung thư vú là loại thuốc giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Các loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất để giảm nguy cơ ung thư vú là tamoxifen và raloxifene. Các loại thuốc khác gọi là chất ức chế aromatase (như anastrozole và exemestane) cũng có thể là một lựa chọn.
Bước đầu tiên để quyết định xem bạn có nên dùng thuốc phòng ngừa ung thư vú hay không là nhờ bác sĩ đánh giá nguy cơ ung thư vú của bạn.
Hầu hết các chuyên gia đều cho rằng nguy cơ ung thư vú của bạn phải cao hơn mức trung bình thì bạn mới cân nhắc dùng thuốc phòng ngừa ung thư vú. Không có định nghĩa về nguy cơ ung thư vú cao hơn mức trung bình. Nhưng hầu hết các nghiên cứu lớn đều lấy mức nguy cơ phát triển ung thư vú là 1,7% trong 5 năm tới làm điểm giới hạn theo mô hình Gail Modal của Mỹ. Đây là nguy cơ trung bình đối với phụ nữ 60 tuổi. [1]
Nếu bạn có nguy cơ cao hơn mức trung bình, bạn cần so sánh lợi ích của việc có thể giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú với nguy cơ tác dụng phụ và các vấn đề khác khi dùng một trong những loại thuốc này.
Yếu tố rủi ro là bất cứ điều gì làm tăng nguy cơ mắc bệnh của bạn. Các yếu tố nguy cơ cần được đánh giá để tìm hiểu xem bạn có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn mức trung bình hay không. Nhưng hãy nhớ rằng có yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn chắc chắn sẽ mắc ung thư vú. Trên thực tế, hầu hết phụ nữ có 1 hoặc nhiều yếu tố nguy cơ đều không bao giờ mắc bệnh ung thư vú.
Một số yếu tố nguy cơ quan trọng gây ung thư vú bao gồm:
Các yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ của bạn nhiều hơn những yếu tố khác.

Chỉ định, chống chỉ định dùng thuốc phòng ngừa ung thư vú trong các trường hợp sau:
Một số tổ chức y tế khuyến nghị các bác sĩ thảo luận về việc sử dụng thuốc để giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ 35 tuổi trở lên có nguy cơ ung thư vú trong 5 năm tới là từ 1,7% trở lên theo phần mềm tính toán Gail Model.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ không có khuyến nghị sử dụng thuốc giúp giảm nguy cơ ung thư vú. Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng không nên sử dụng tamoxifen và raloxifene để giảm nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ sau:
Bên cạnh đó, người bị đột biến gen BRCA và PALB2 cũng không nên dùng thuốc phòng ngừa ung thư vú vì:
Nói chuyện với bác sĩ về sức khỏe tổng thể của bạn để đưa ra lựa chọn phù hợp với bản thân.

Với phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn mức trung bình, một số loại thuốc có thể giúp giảm nguy cơ này. Nhưng những loại thuốc này cũng có thể có tác dụng phụ, vì vậy điều quan trọng là phải cân nhắc ưu và nhược điểm trước khi quyết định dùng một trong những loại thuốc phòng ngừa ung thư vú. Bao gồm những loại sau:
Cả 2 loại thuốc này đều là chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (SERM). Điều này có nghĩa là chúng hoạt động chống lại (hoặc ngăn chặn) estrogen (1 loại hormone nữ) ở một số mô của cơ thể, nhưng lại hoạt động giống như estrogen ở những mô khác. Estrogen có thể thúc đẩy sự phát triển của các tế bào ung thư vú. Cả 2 loại thuốc này đều ngăn chặn estrogen trong tế bào vú, giúp giảm nguy cơ ung thư vú.
Những loại thuốc này được sử dụng thường xuyên hơn vì những lý do sau:
Khi được sử dụng để giảm nguy cơ ung thư vú, những loại thuốc này thường được dùng trong 5 năm. Cả 2 loại thuốc đều là thuốc uống mỗi ngày một lần. Tamoxifen cũng có ở dạng lỏng.
Tamoxifen có thể là một lựa chọn cho dù bạn đã trải qua thời kỳ mãn kinh hay chưa, nhưng raloxifene chỉ được chấp thuận cho phụ nữ sau mãn kinh.
Tamoxifen và raloxifene là những loại thuốc đã được phê duyệt ở Hoa Kỳ để giúp giảm nguy cơ ung thư vú, mặc dù đối với một số phụ nữ, thuốc ức chế aromatase cũng có thể là một lựa chọn.
Tác dụng của những loại thuốc này đối với nguy cơ ung thư vú rất khác nhau trong các nghiên cứu khác nhau. Khi kết quả của tất cả các nghiên cứu được so sánh cùng nhau, mức giảm nguy cơ chung đối với các loại thuốc này là khoảng 40% (hơn 1/3). [2]
Cả tamoxifen và raloxifene đều có thể giúp ngăn ngừa chứng loãng xương, tình trạng xương bị suy yếu nghiêm trọng có thể làm tăng nguy cơ gãy xương và phổ biến hơn sau khi mãn kinh.
Những phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn mức trung bình nên cân nhắc dùng thuốc để giảm nguy cơ, thuốc ức chế aromatase (AI) có thể là một lựa chọn thay vì tamoxifen hoặc raloxifene.
Chất ức chế aromatase (AI) làm giảm nồng độ estrogen bằng cách ngăn chặn một loại enzyme trong mô mỡ (được gọi là aromatase) biến đổi các hormone khác thành estrogen. (Estrogen có thể thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư vú.)
Những loại thuốc này không ngăn cản buồng trứng tạo ra estrogen. Chúng chỉ làm giảm nồng độ estrogen ở những phụ nữ có buồng trứng không sản xuất estrogen (chẳng hạn như những phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh). Vì lý do này, chất ức chế aromatase được sử dụng chủ yếu ở những phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh.
Các AI đã được chứng minh trong các nghiên cứu giúp giảm nguy cơ ung thư vú bao gồm:
Giống như tamoxifen, những loại thuốc này thường được sử dụng để điều trị ung thư vú dương tính với thụ thể hormone hơn để giảm nguy cơ ung thư vú.
Khi được sử dụng để giảm nguy cơ ung thư vú, những loại thuốc này thường được dùng trong 5 năm, dạng viên thuốc, uống mỗi ngày một lần.
Trong các nghiên cứu lớn, cả anastrozole và exemestane đều được chứng minh là làm giảm nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ cao hơn.
Mặc dù những loại thuốc này không được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận để giảm nguy cơ ung thư vú, nhưng một số nhóm chuyên gia đã đưa chúng vào làm lựa chọn (cùng với tamoxifen và raloxifene) để giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ gia tăng. Ví dụ, chúng có thể là lựa chọn hợp lý cho những phụ nữ có nguy cơ đông máu cao hơn và không dùng được tamoxifen hoặc raloxifene.

Mặc dù một loại thuốc làm giảm nguy cơ của bạn khoảng 40% nghe có vẻ như là một điều tốt, nhưng điều này có ý nghĩa gì đối với bạn phụ thuộc vào mức độ rủi ro ngay từ đầu (nguy cơ cơ bản).
Ví dụ: nếu bạn có 5% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú trong 5 năm tới, bạn sẽ được coi là có nguy cơ cao. Rủi ro 5% có nghĩa là trong 5 năm tới, 5 trong số 100 phụ nữ có nguy cơ như bạn sẽ bị ung thư vú. Giảm 40% rủi ro có nghĩa là rủi ro của bạn giảm xuống còn 3%.
Vì sự thay đổi trong rủi ro tổng thể phụ thuộc vào rủi ro cơ bản, bạn sẽ được hưởng lợi ít hơn nếu có rủi ro cơ bản thấp hơn và bạn sẽ được hưởng lợi nhiều hơn nếu rủi ro cao hơn. Nếu rủi ro cơ bản của bạn chỉ là 1,7% trong 5 năm tới (mức mà nhiều nhóm chuyên gia sử dụng làm điểm giới hạn để xác định mức rủi ro gia tăng), giảm 40% có nghĩa là rủi ro của bạn đã giảm ít hơn khoảng 1% trong 5 năm tới.
Bác sĩ có thể ước tính nguy cơ ung thư vú của bạn dựa trên các yếu tố như tuổi tác, tiền sử bệnh và tiền sử gia đình. Điều này có thể giúp bạn biết bạn có thể nhận được bao nhiêu lợi ích khi dùng thuốc phòng ngừa ung thư vú.
Tamoxifen và raloxifene giúp giảm nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ có nguy cơ cao hơn mức trung bình, nhưng những loại thuốc này có thể có những rủi ro và tác dụng phụ riêng:

Tất cả các loại thuốc đều có rủi ro và tác dụng phụ, bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc phòng ngừa ung thư vú nào. Một số biến chứng thường gặp như:
Một số lưu ý khi sử dụng thuốc phòng ngừa ung thư vú:
Hiện vẫn chưa biết liệu thuốc này có đi vào sữa mẹ hay không nên các bác sĩ thường khuyên bạn không nên cho con bú khi sử dụng thuốc phòng ngừa ung thư vú.
Thuốc phòng ngừa ung thư vú có tác dụng trong bao lâu còn tùy vào thể trạng của mỗi người. Khi được sử dụng để giảm nguy cơ ung thư vú, những loại thuốc này thường được dùng trong 5 năm. Cả 2 loại thuốc đều là thuốc uống mỗi ngày một lần.
Bạn không nên uống gấp đôi để bù cho liều đã bỏ lỡ. Trường hợp quên liều thuốc phòng ngừa ung thư vú, hãy uống ngay khi nhớ và uống liều tiếp theo như bình thường. Tuy nhiên, nếu gần đến giờ uống liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch trình uống thuốc thông thường.
Các nhà nghiên cứu đã xây dựng một số mô hình thống kê để giúp dự đoán nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ.
Ví dụ: Công cụ đánh giá rủi ro ung thư vú (dựa trên Mô hình Gail đã sửa đổi) thường được sử dụng để đánh giá rủi ro, có thể ước tính nguy cơ mắc bệnh ung thư vú trong 5 năm tới và trong suốt cuộc đời của bạn, dựa trên nhiều yếu tố được liệt kê ở trên.
Tuy nhiên, công cụ này chỉ xem xét lịch sử gia đình của những người họ hàng gần (như anh chị em, cha mẹ và con cái). Công cụ này không thể được sử dụng để ước tính rủi ro nếu bạn có tiền sử ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS), ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS) hoặc ung thư vú hoặc nếu bạn mắc hội chứng ung thư gia đình.
Ngoài ra, dữ liệu mà công cụ này dựa trên không bao gồm phụ nữ người Mỹ bản địa hoặc thổ dân Alaska, vì vậy ước tính về những phụ nữ này có thể không chính xác.
Các công cụ đánh giá rủi ro khác, chẳng hạn như mô hình Tyrer-Cuzick và mô hình Claus, chủ yếu dựa vào lịch sử gia đình. Những công cụ này chủ yếu được sử dụng bởi các cố vấn di truyền và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác. Những công cụ này có thể cung cấp cho bạn ước tính sơ bộ về nguy cơ của bạn, nhưng không có công cụ hoặc xét nghiệm nào có thể biết chắc chắn liệu bạn có bị ung thư vú hay không.

Với hệ thống trang thiết bị hiện đại, đội ngũ chuyên gia nhiều kinh nghiệm, làm việc phối hợp đa chuyên khoa như Chẩn đoán hình ảnh – Giải phẫu bệnh – Nội khoa Ung thư, khoa Ngoại vú thuộc Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh có thế mạnh trong tầm soát và điều trị ung thư vú và các bệnh liên quan đến tuyến vú.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tamoxifen, raloxifene và thuốc ức chế aromatase (AI) đều là những loại thuốc phòng ngừa ung thư vú phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, những loại thuốc này đi kèm nhiều tác dụng phụ, nhất là với phụ nữ chưa mãn kinh. Vì vậy, bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa ung bướu để đảm bảo an toàn và hiệu quả khi sử dụng.