Mật độ tinh trùng ở nam giới được đánh giá là cao khi số lượng tinh trùng của người đó lớn hơn 300 triệu/ml. Mật độ tinh trùng cao có làm tăng cơ hội tinh trùng thụ tinh với trứng thành công? mật độ tinh trùng ở ngưỡng nào là bình thường? Các thông tin này sẽ được Bác sĩ Nguyễn Tiến Huy Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội chia sẻ trong bài viết sau.

Mật độ tinh trùng cao là khi có hơn 300 triệu tinh trùng/ml tinh dịch, theo Hiệp hội vô sinh quốc gia Hoa Kỳ (Resolve). Nhiều người tin rằng mật độ tinh trùng cao sẽ giúp tăng cơ hội thụ thai, nhưng thực tế không hẳn như vậy.
Mật độ tinh trùng cao không đồng nghĩa với sức khỏe sinh sản tốt hơn, vì khả năng sinh sản còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng tinh trùng, khả năng di chuyển, hình thái của tinh trùng và sức khỏe sinh sản của người vợ. Vì vậy, mật độ tinh trùng chỉ là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản nam giới.
Mật độ tinh trùng cao là dấu hiệu tốt cho thấy sức khỏe sinh sản của nam giới bình thường. Tuy không có bằng chứng rõ ràng về mật độ tinh trùng cao thì khả năng sinh sản tăng, nhưng nam giới có nồng độ tinh trùng cao có cơ hội thụ tinh thành công nhiều hơn so với người có ít tinh trùng.
Chất lượng tinh trùng có thể bị ảnh hưởng bởi lối sống, vấn đề môi trường và y tế, cụ thể:
Lối sống lành mạnh, sinh hoạt điều độ giúp duy trì chất lượng tinh trùng khỏe mạnh. Nếu nam giới sử dụng ma túy, uống rượu bia, hút thuốc, trầm cảm, ăn uống thiếu lành mạnh, không tập thể dục, béo phì… đều có thể ảnh hưởng số lượng tinh trùng, biến đổi DNA tinh trùng. Do đó duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ, sinh hoạt khoa học là một trong các chiến lược cải thiện chất lượng tinh trùng hiệu quả.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, chất lượng tinh trùng suy giảm một nửa trong 50 năm qua và tốc độ giảm ngày càng nhanh (1). Nguyên nhân chính của sự suy giảm này liên quan đến ô nhiễm môi trường, hút thuốc lá, tuổi tác và một số bệnh lý. Mối lo ngại về khả năng sinh sản của nam giới đang gia tăng, với nhiều ý kiến cho rằng điều này có thể “đe dọa đến sự tồn vong của nhân loại”.
Tuy nhiên, nếu nam giới duy trì lối sống lành mạnh, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần tốt, điều trị sớm các bệnh lý ảnh hưởng khả năng sinh sản thì có thể cải thiện chất lượng tinh trùng hiệu quả.
Tuổi tác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh trùng. Các nghiên cứu từ năm 1972 đến 1992 cho thấy, trong khi thể tích dịch không thay đổi, nồng độ tinh trùng giảm 2.1% mỗi năm (2). Nghiên cứu phát hiện ra rằng nam giới ở độ tuổi 40-50 có ít hơn tế bào mầm so với nam giới độ tuổi 20-30.
Mặc dù không có nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa sức khỏe tổng thể và mật độ tinh trùng, song nhiều người cứu chấp nhận quan điểm nam giới có tổng trạng sức khỏe tốt, không mắc các bệnh lý, rối loạn tiềm ẩn sẽ có số lượng và chất lượng tinh trùng cao.
Một số nghề nghiệp đặc thù tiếp xúc nhiều với hóa chất, kim loại nặng, phóng xạ hay nhiệt độ cao cũng có thể tác động tiêu cực đến chất lượng tinh binh. Lời khuyên của bác sĩ nam khoa là nam giới nên trang bị các đồ bảo hộ chuyên dụng, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây nhiễm độc, hạn chế thói quen tắm nước nóng, ngâm bồn, đặt laptop trên đùi khi làm việc…
Hầu hết các loại thuốc điều trị bệnh lý không ảnh hưởng sức khỏe tinh trùng. Tuy nhiên liệu pháp hóa trị trong điều trị ung thư có thể gây độc cho tế bào, bao gồm tế bào tinh trùng. Hóa trị kéo dài có thể khiến suy giảm số lượng tinh trùng, tăng nguy cơ tinh trùng dị dạng không thể hồi phục. Do đó đối với nam giới điều trị ung thư, bác sĩ khuyến nghị trữ đông tinh trùng nhằm bảo tồn khả năng sinh sản.
Có thể bạn quan tâm: Tinh trùng đặc hay loãng là tốt?

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các cặp vợ chồng mà người chồng có mật độ tinh trùng thấp sẽ khó khăn hơn trong việc thụ thai tự nhiên và có thể cần sự giúp đỡ từ các biện pháp hỗ trợ sinh sản. Tuy nhiên trên y văn thế giới hiện nay không có nghiên cứu cụ thể nào cho thấy nam giới có nồng độ tinh trùng cao thì có cơ hội thụ tinh với trứng thành công cao hơn, hoặc tăng khả năng sinh sản.
Khả năng thụ thai thành công liên quan nhiều yếu tố gồm chất lượng tinh trùng, chất lượng trứng của người vợ, chất lượng phôi, “sức khỏe” niêm mạc tử cung cho phép phôi làm tổ…
Thông thường, số lượng tinh trùng từ 16 đến 200 triệu trên một ml tinh dịch được đánh giá là nồng độ tinh trùng tốt. Tuy nhiên nam giới cần lưu ý số lượng tinh trùng nhiều không đảm bảo tỷ lệ thụ tinh với trứng thành công cao. Khả năng thụ tinh thành công còn phụ thuộc vào các yếu tố như tỷ lệ tinh trùng sống sót, tinh trùng bình thường, di động tiến tới, hình thái… đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ tinh.
Ví dụ nếu mật độ tinh trùng của bạn là 30 triệu/ml được đánh giá là bình thường, nhưng khả năng di động của tinh trùng dưới 40% thì người vợ giảm cơ hội thụ thai thành công.

Ngoại trừ các nguyên nhân di truyền ảnh hưởng chất lượng tinh trùng, nồng độ tinh trùng của nam giới có thể cải thiện nếu áp dụng những thay đổi như:
Trong một số trường hợp cụ thể, bác sĩ có thể kê đơn thuốc kháng estrogen hoặc liệu pháp gonadotropin có thể tăng cường khả năng sinh sản ở nam giới. Tuy nhiên nam giới uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ điều trị, không tự ý sử dụng các loại thuốc, thực phẩm chức năng do lo ngại làm rối loạn nội tiết tố.

Hiện nay, việc đánh giá nồng độ tinh trùng cao hay thấp được xác định bằng kết quả xét nghiệm tinh dịch đồ. Nhiều trường hợp nam giới khỏe mạnh nhưng mắc bệnh lý tiềm ẩn, dẫn đến suy giảm nồng độ tinh trùng nhưng phát hiện muộn làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Do đó nam giới nếu phát hiện bất thường cơ quan sinh dục hoặc tinh dịch khi xuất ra, hoặc tiền sử mắc các bệnh lý giãn tĩnh mạch thừng tinh, quai bị, “bệnh xã hội”… cần nhanh chóng thăm khám, theo dõi và điều trị sớm, tránh hệ lụy sức khỏe lâu dài.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, nam giới có mật độ tinh trùng cao không đồng nghĩa cơ hội thụ tinh thành công cao hơn người có nồng độ tinh trùng bình thường. Nếu vợ chồng gặp vấn đề về khả năng sinh sản, cả hai nên thăm khám sớm tại các bệnh viện, phòng khám uy tín để bác sĩ thăm khám và có kế hoạch điều trị phù hợp.