
Trong bài viết này, hãy cùng tìm hiểu những phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ theo từng giai đoạn cụ thể với sự chia sẻ của Thạc sĩ bác sĩ Nguyễn Tiến Sỹ, khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM.

Ung thư phổi không tế bào nhỏ có tốc độ tiến triển không quá nhanh, nhưng vẫn nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Có hai dạng ung thư phổi phổ biến, gồm ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer) chiếm 10%-15% tổng số ca ung thư phổi và ung thư phổi không tế bào nhỏ (non-small cell lung cancer) chiếm khoảng 85% tổng số ca ung thư phổi. Tỷ lệ sống sau 5 năm của người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ trung bình khoảng 28%, cụ thể từng giai đoạn như sau: (1)
Có nhiều loại ung thư phổi không tế bào nhỏ như ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tuyến vảy…

Ung thư phổi không tế bào nhỏ được chia làm 4 giai đoạn I, II, III, IV (hay 1,2,3,4), trong mỗi giai đoạn sẽ có những giai đoạn nhỏ, chi tiết hơn như IA, IB, IIIA, IIIB, IIIC,… Các giai đoạn được biểu thị thông qua hệ thống TMN bao gồm 3 yếu tố khối u (T = Tumor), hạch bạch huyết (N = Node) và di căn (M = Metastasis).
Khối u (T = Tumor): Đánh giá khối u ung thư trong phổi dựa trên độ lớn, mức độ xâm lấn vào cấu trúc lân cận, số lượng khối u:
Hạch bạch huyết (N = Node) là một phần của hệ thống bạch huyết, to cỡ hạt đậu, phân bố khắp cơ thể. Yếu tố N đánh giá mức độ lây lan của ung thư ở hệ thống hạch bạch huyết, với các mức độ:
Di căn (M = Metastasis) cho biết ung thư đã lan đến các cơ quan khác của cơ thể hay chưa. Một số cơ quan thường di căn ung thư phổi gồm gan, não, xương,…
Kết hợp các yếu tố TNM, ta sẽ có giai đoạn ung thư phổi cụ thể như sau:
Ví dụ, giai đoạn IIB T1N1M0 biểu thị khối u ≤ 3cm, xuất hiện ung thư ở hạch bạch huyết trong phổi nhưng chưa di căn xa.
Để phân biệt giai đoạn chẩn đoán và thực tế, bác sĩ dùng tiền tố “c” (tức lâm sàng – clinical), hoặc “p” (tức giải phẫu bệnh – pathological), ví dụ, pT3N1M0.
Bác sĩ sẽ dùng những phương pháp điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ khác nhau dựa trên những yếu tố cụ thể như giai đoạn, vị trí khối u, tình trạng sức khỏe người bệnh…
Giai đoạn khu trú thường được dùng để chỉ giai ung thư giai đoạn I, II. Ở giai đoạn khu trú, tổn thương còn mang tính tại chỗ ở một bên phổi và hạch bạch huyết lân cận. Ở giai đoạn này, bác sĩ ưu tiên điều trị triệt căn, tức tiêu diệt hoàn toàn tế bào ung thư với hai phương pháp chủ đạo phẫu thuật hoặc xạ trị. Bên cạnh đó, bác sĩ có thể kết hợp thêm một số phương pháp bổ trợ trước và sau điều trị như hóa trị, liệu pháp miễn dịch.
Có nhiều loại phẫu thuật có thể được chỉ định điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ như: cắt u, cắt 1 hoặc nhiều thùy phổi và nạo hạch. Phẫu thuật đặc biệt được ưu tiên khi kích thước ung thư nhỏ, chưa di căn đến các hạch bạch huyết hay cơ quan xa. Lúc này, phẫu thuật có thể loại bỏ hoàn toàn khối u ung thư cũng như một phần mô phổi xung quanh. Có 5 loại phẫu thuật ung thư phổi gồm:

Nạo hạch là phương pháp cắt bỏ hạch bạch huyết lân cận khối u, giúp loại bỏ tế bào ung thư đã di căn hạch, có thể được chỉ định khi bác sĩ nghi ngờ hoặc phát hiện ung thư di căn đến hạch bạch huyết.
Hóa trị là phương pháp điều trị toàn thân, tức có thể tác động đến toàn bộ các vị trí ung thư trong cơ thể. Tuy nhiên, hóa trị cũng gây tổn thương mô lành và nhiều tác dụng phụ khác.
Hóa trị tân hỗ trợ (trước phẫu thuật) nhằm mục đích tiêu diệt tế bào ung thư có thể đã di căn trong cơ thể và thu nhỏ khối u, giảm giai đoạn bệnh (ví dụ khối u T2a có thể trở thành T1) trước khi phẫu thuật hoặc xạ trị. Từ đó, hạn chế xâm lấn mô lành, bảo tồn tối đa phổi.
Hóa trị sau phẫu thuật được dùng để đảm bảo loại bỏ các tế bào ung thư có thể sót lại sau phẫu thuật, giảm thiểu nguy cơ ung thư tái phát. Tùy vào tình trạng bệnh cụ thể, bác sĩ sẽ quyết định người bệnh có cần hóa trị hay không. Hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật thường dùng Cisplatin hoặc Carboplatin kết hợp với 1 loại hóa chất khác.

Xạ trị sau phẫu thuật thường được chỉ định cho người bệnh có khả năng tái phát ung thư, dùng chùm tia xạ được điều hướng chính xác khiến tế bào ung thư ngừng sinh sản và chết đi.
Liệu pháp miễn dịch có thể được dùng cùng hóa trị. Liệu pháp miễn dịch dùng một số loại thuốc để tăng khả năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch bằng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.
Ở giai đoạn tiến triển tại chỗ, ung thư đã xâm lấn sang một số cơ quan khác, phác đồ điều trị cần được cá thể hóa cụ thể theo tình trạng của mỗi người bệnh.
Được xem như phương pháp tiêu chuẩn điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển tại chỗ.
Hóa xạ đồng thời được khuyến cáo cho người bệnh ung thư phổi thể trạng tốt, có thể đáp ứng quá trình điều trị.
Ngoài hóa xạ đồng thời, bác sĩ có thể dùng thêm liệu pháp miễn dịch bằng thuốc Durvalumab, 1 dạng kháng thể đơn dòng có chức năng ức chế thụ thể PD-L1. Đây là thụ thể có trên màng tế bào ung thư, giúp tế bào ung thư “lẩn trốn” hệ miễn dịch của cơ thể. Ức chế thụ thể PD-L1 giúp tế bào T của hệ miễn dịch có thể phát hiện và tấn công tế bào ung thư.
Đối với người bệnh ở giai đoạn tiến triển xa (di căn xa), bác sĩ thường dùng các phương pháp điều trị toàn thân như hóa trị, liệu pháp trúng đích hoặc miễn dịch. Biện pháp phẫu thuật hoặc xạ trị có thể được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.
Đột biến gen EGFR (epidermal growth factor receptor) thường xuất hiện ở người bệnh ung thư phổi. Đột biến EGFR thường làm tế bào ung thư phát triển nhanh hơn. Bác sĩ có thể dùng liệu pháp trúng đích với thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR (EGFR-TKI) giúp ngăn khối u phát triển.
Đột biến gen ALK (anaplastic lymphoma kinase) khá hiếm gặp, chiếm 2%-7% số ca ung thư phổi. Đột biến gen ALK khiến tế bào ung thư phát triển, được điều trị bằng liệu pháp trúng đích với một số loại thuốc như: crizotinib, ceritinib, alectinib, hoặc lorlatinib… Các loại thuốc có thể giúp thể hạn chế, làm chậm lại quá trình phát triển ung thư.
Đối với các dạng đột biến chưa có thuốc điều trị trúng đích, người bệnh có thể được điều trị bằng cách phối hợp nhiều phương pháp như hóa trị, miễn dịch. Bác sĩ có thể kết hợp nhiều loại thuốc khác nhau nếu cần thiết.
Đối với những người bệnh di căn ở não – xương, bác sĩ có thể dùng các phương pháp khác như xạ trị tổn thương di căn, truyền thuốc chống hủy xương zoledronic acid, thuốc chống phù não…
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM là địa chỉ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ uy tín, chất lượng. Các bác sĩ khoa Ung bướu tại bệnh viện là những chuyên gia đầu ngành trong khám và điều trị ung thư, với kỹ năng chuyên môn giỏi bên cạnh nhiều năm kinh nghiệm thực tiễn.
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM có cơ sở vật chất hiện đại, với nhiều thiết bị tiên tiến phục vụ chẩn đoán, điều trị ung thư như: Máy chụp CT 786 lát cắt, 1975 lát cắt; máy chụp MRI 1,5-3 Tesla; phòng phẫu thuật áp lực dương; phòng pha hóa chất áp lực âm… hỗ trợ các bác sĩ khám và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ hiệu quả.

Bệnh viện cũng nhiều năm liền đứng trong danh sách 10 bệnh viện chất lượng tốt nhất trong hơn 100 bệnh viện tại TP.HCM do Sở Y tế khảo sát.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Ung thư phổi không tế bào nhỏ là dạng ung thư phổ biến, nguy hiểm, cần được tích cực điều trị để đạt kết quả tốt nhất. Tùy thuộc vào tình trạng bệnh và mục đích điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, các bác sĩ có thể kết hợp nhiều phương pháp như hóa – xạ trị, phẫu thuật, liệu pháp trúng đích, miễn dịch,…