Tinh trùng có hết không? Dấu hiệu nào cảnh báo tinh trùng sắp “cạn kiệt”? Làm thế nào để cải thiện tình trạng trạng tinh trùng suy giảm? Đây là những thắc mắc thường gặp ở nhiều người, đặc biệt là nam giới trung niên. Để giải đáp những vấn đề này, bác sĩ Nguyễn Công Minh Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh sẽ chia sẻ chi tiết trong bài viết sau.

Theo cơ chế tự nhiên, nam giới không bao giờ hết tinh trùng. Ở người khỏe mạnh, tinh hoàn liên tục sản xuất tinh trùng mới ngay cả khi quan hệ tình dục hoặc thủ dâm nhiều lần trong ngày. Như vậy nếu không có các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh thì tinh trùng không bao giờ hết.
Trái ngược với phụ nữ, nam giới vẫn có thể duy trì khả năng sinh tinh và có con ở tuổi 50, 60, thậm chí nhiều trường hợp nam giới có con ở tuổi U80, U90. Mặc dù tinh trùng không “cạn kiệt”, chất lượng và số lượng tinh trùng có thể suy giảm theo thời gian. Từ 40 tuổi trở đi, nam giới có thể gặp các vấn đề như suy giảm số lượng tinh trùng, khả năng di động, tăng tỷ lệ tinh trùng dị dạng, mất cân bằng nội tiết tố hoặc các bệnh lý nền ảnh hưởng khả năng sinh tinh.
Bác sĩ Nguyễn Công Minh cho biết về mặt lý thuyết, quá trình sản xuất tinh trùng diễn ra liên tục và mỗi tinh hoàn có thể “cho ra đời” hàng triệu tinh trùng mỗi ngày. Tuy nhiên có bằng chứng cho thấy chất lượng và số lượng tinh trùng suy giảm rõ rệt trong 50 năm qua, phản ánh tình trạng suy giảm sức khỏe sinh sản nói chung ở nam giới.
Cụ thể trong cuốn sách “Countdown” của tác giả Shanna Swan (chuyên gia dịch tễ môi trường và là giáo sư về y học sinh sản và môi trường tại Trường đại học Y khoa Icahn ở Mount Sinai, New York) khảo sát 185 nghiên cứu trên 43.000 nam giới độ tuổi trưởng thành ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Úc, cho thấy sau gần 50 năm, chất lượng tinh trùng chi bằng 59% so với năm 1972. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự đe dọa sức khỏe sinh sản toàn cầu trong tương lai. (1)

Quá trình sản xuất tinh trùng diễn ra liên tục trong tinh hoàn và chịu sự điều hòa, chi phối chặt chẽ từ hệ thống nội tiết trung ương. Đầu tiên, vùng dưới đồi trong não tiết ra hormone GnRH, kích thích tuyến yên tiết ra hai hormone sinh sản quan trọng là FSH và LH. Khi đến tinh hoàn, LH sẽ kích thích tế bào Leydig sản xuất hormone nam testosterone, đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất tinh trùng, còn FSH tác động đến tế bào sertoli nằm trong các ống sinh tinh, hỗ trợ tế bào tinh trùng phát triển. (2)
Trong tinh hoàn, ống sinh tinh chịu trách nhiệm sản xuất tinh hoàn. Tại đây, quá trình sinh tinh trải qua nhiều giai đoạn: từ tế bào sinh tinh phát triển thành tinh bào sơ cấp, chuyển tiếp thành tinh bào thứ cấp, tinh tử và cuối cùng biệt hóa thành tinh trùng trưởng thành. Trung bình quá trình này kéo dài 50-60 ngày.
Sau khi hình thành, tinh trùng chưa có khả năng di chuyển hay thụ tinh ngay mà cần được đưa đến mào tinh hoàn (hệ thống nằm phía sau tinh hoàn) để tiếp tục chuyển sang giai đoạn trưởng thành trong khoảng 14 ngày. Trong thời gian này, tinh trùng sẽ hoàn thiện cấu trúc phần đuôi, khả năng di động; phần đầu thu nhỏ lại, có hình nhọn đặc trưng do tế bào chất thu nhỏ, nhân dài ra và hình thành acrosome. Như vậy, tổng thời gian để một tinh trùng phát triển hoàn chỉnh từ tế bào gốc đến khi sẵn sàng tham gia thụ tinh là khoảng 74 ngày.
Khi nam giới đạt cực khoái, tinh trùng được tống ra khỏi mào tinh thông qua ống dẫn tinh, hòa với dịch từ túi tinh để tạo thành tinh dịch, sau đó được xuất ra ngoài qua niệu đạo. Nếu không được xuất tinh, tinh trùng sẽ được cơ thể tái hấp thụ mà không ảnh hưởng đến sức khỏe.
Trong một số tình huống cụ thể, nam giới có thể “hết” tinh trùng tạm thời như:
Khi nam giới quan hệ tình dục hoặc thủ dâm nhiều lần trong thời gian ngắn, tinh hoàn có thể không sản xuất lại đủ tinh trùng để bù đắp lại. Điều này có thể dẫn đến hiện tượng tinh dịch giảm thể tích, mật độ tinh trùng thấp trong các lần xuất tinh sau đó. Tuy nhiên tình trạng này thường không kéo dài lâu, nam giới không cần quá lo lắng.
Bác sĩ khuyến nghị nam giới nên duy trì tần suất xuất tinh phù hợp. Việc xuất tinh liên tục kéo dài làm tăng nguy cơ rối loạn hoạt động sinh tinh, ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng về sau.
Một số bệnh lý nam khoa có thể khiến tinh dịch không có tinh trùng, thường được biết đến là azoospermia (vô tinh trùng). Ngoài ra, các bệnh lý như viêm tinh hoàn, biến chứng quai bị hoặc tiếp xúc với chất độc hại trong thời gian dài cũng có thể làm giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng sinh tinh.
Trường hợp teo tinh hoàn do chấn thương, nhiễm trùng, biến chứng sau phẫu thuật hoặc mô tinh hoàn bị tổn thương nặng nề có thể dẫn đến tình huống không còn khả năng sản xuất tinh trùng. Đối với trường hợp này, bác sĩ sẽ thăm khám chuyên sâu và áp dụng các biện pháp can thiệp cần thiết.
Ở một số trường hợp mắc hội chứng không tinh hoàn hoặc cắt bỏ tinh hoàn do ung thư sẽ hoàn toàn mất khả năng sinh tinh, không thể có con tự nhiên.
Riêng đối với trường hợp mắc hội chứng Klinefelter vẫn có thể còn hy vọng có con “chính chủ” nếu can thiệp vi phẫu tích mô tinh hoàn tìm tinh trùng micro-TESE. Trước đây, nam giới mắc hội chứng Klinefelter thường được chỉ định xin tinh trùng làm thụ tinh ống nghiệm hoặc nhận con nuôi. Tuy nhiên hiện nay, nhờ tiến bộ kỹ thuật vượt bậc, nam giới mắc bệnh vẫn có cơ hội có con bằng chính tinh trùng của mình.
Thực tế, IVF Tâm Anh đã vi phẫu tìm tinh trùng thành công cho nhiều trường hợp nam giới mắc hội chứng Klinefelter. Số tinh trùng quý giá thu được sau vi phẫu sẽ được trữ đông bằng kỹ thuật trữ lạnh tinh trùng số lượng ít micro-straw, giúp đảm bảo tỷ lệ tinh trùng sống sót sau rã đông để làm thụ tinh ống nghiệm.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng không có tinh trùng, liên quan đến bệnh lý, rối loạn nội tiết, yếu tố di truyền, môi trường sống… Việc xác định đúng nguyên nhân là bước quan trọng để nam giới có hướng can thiệp hoặc điều trị hỗ trợ sinh sản phù hợp.
Một số bệnh lý ảnh hưởng trực tiếp đến tinh hoàn hoặc hoạt động sinh tinh, gây ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh, xuất tinh, giảm mật độ tinh trùng trong tinh dịch có thể kể đến như:
Trục nội tiết hạ đồi – tuyến yên – tinh hoàn quyết định đến hoạt động sinh tinh. Nếu hệ thống này rối loạn, sự điều tiết các hormone sinh dục như GnRH, FSH, LH và testosterone bị ảnh hưởng làm gián đoạn quá trình sinh tinh hoặc ngừng hoàn toàn. Trường hợp này thường gặp ở những nam giới mắc hội chứng Klinefelter, đột biến vi mất đoạn AZF trên nhiễm sắc thể Y, hội chứng Kallmann.
Yếu tố lối sống tác động đến khả năng sinh tinh cũng như chất lượng tinh trùng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những thói quen không tốt như lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá, thức khuya, thường xuyên căng thẳng, mất ngủ hoặc đặc thù các công việc tiếp xúc với tác nhân độc hại, nhiệt độ cao (tài xế xe đường dài, đầu bếp, đặt máy tính trên đùi khi làm việc, để điện thoại trong túi quần thường xuyên) đều có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh binh, làm suy giảm khả năng có con.

Nếu không gặp vấn đề liên quan mất cân bằng nội tiết, bệnh lý hoặc hội chứng bất thường bẩm sinh, cơ thể nam giới sẽ liên tục sản xuất tinh trùng nên không có tình huống “cạn kiệt” tinh trùng hoàn toàn.
Vô tinh không thể phát hiện bằng mắt thường mà cần chẩn đoán dựa trên kết quả xét nghiệm tinh dịch đồ. Tuy nhiên trước đó, một số dấu hiệu hoặc tình huống bất thường có thể gợi ý tình trạng vô tinh, rối loạn sinh tinh ở nam giới như: (3)
Số lượng và chất lượng tinh trùng có thể cải thiện nếu nam giới duy trì lối sống khoa học, sinh hoạt điều độ. Một số cách cải thiện chất lượng tinh trùng nam giới có thể áp dụng tại nhà:

Tránh các tác nhân gây hại, ô nhiễm môi trường: Việc làm việc thường xuyên trong môi trường dung môi công nghiệp, hóa chất, thuốc trừ sâu độc hại có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng tinh trùng. Vì vậy nam giới nên hạn chế tiếp xúc, đồng thời mang trang phục bảo hộ đầy đủ nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Trên đây là những thông tin giải đáp về vấn đề tinh trùng có hết không mà nhiều nam giới thắc mắc. Bác sĩ Nguyễn Công Minh lưu ý sức khỏe tinh trùng là yếu tố quyết định đến khả năng sinh sản của nam giới. Vì vậy nam giới cần chú ý nâng cao sức khỏe toàn diện, đến bệnh viện thăm khám định kỳ mỗi 6-12 tháng/lần. Khi có dấu hiệu cảnh báo bất thường vùng bìu, nên kiểm tra sớm tại các bệnh viện có chuyên khoa Nam học để được chẩn đoán nguyên nhân, sớm có hướng can thiệp phù hợp.