
Biến chứng tim mạch do bệnh cúm đang là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm hiện nay, đặc biệt là trong thời điểm dịch cúm bùng phát. Virus cúm có thể làm trầm trọng thêm các bệnh lý tim mạch đang có, đồng thời gây ra những biến chứng mới như viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim, suy tim, thậm chí gây tử vong.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi, người lớn tuổi, người mắc bệnh mãn tính như bệnh tim, phổi, thận, rối loạn chuyển hóa, các rối loạn phát triển tâm thần kinh, bệnh gan hoặc huyết học mãn tính, suy giảm miễn dịch có nguy cơ mắc bệnh nặng hoặc biến chứng cao hơn khi bị nhiễm cúm. (1)
Virus cúm không chỉ có thể xâm nhập và phá hủy các tế bào cơ tim mà còn kích hoạt một chuỗi phản ứng viêm toàn thân, làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông và tổn thương mạch máu. Từ đó, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Đáng chú ý, ở những người đã có sẵn bệnh tim mạch, virus cúm có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh nền và tăng gánh nặng cho trái tim đã suy yếu. Vì vậy, chủ động phòng ngừa cúm và điều trị kịp thời khi mắc bệnh là vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với người mắc bệnh tim mạch, người cao tuổi.

Khi nhiễm cúm mùa, virus cúm tấn công cơ thể, trong đó có hệ tim mạch thông qua nhiều cơ chế phức tạp và đa chiều, tạo ra chuỗi phản ứng viêm toàn thân nghiêm trọng. Ngoài ra, virus có thể trực tiếp xâm nhập và gây tổn thương các tế bào cơ tim, dẫn đến viêm cơ tim và suy giảm chức năng co bóp của tim.
Đồng thời, phản ứng viêm hệ thống kích hoạt sự giải phóng cytokine và các chất trung gian gây viêm, kích hoạt hệ thống đông máu và làm tổn thương nội mạc mạch máu. Quá trình viêm cũng làm tăng nguy cơ vỡ mảng xơ vữa động mạch và hình thành cục máu đông. Hậu quả là làm tăng nguy cơ xảy ra các biến chứng tim mạch nguy hiểm.
Cúm là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, có khả năng lây lan nhanh và bùng phát thành dịch. Cúm gây ra 290.000 – 650.000 ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu. Không chỉ ảnh hưởng đến hệ hô hấp, cúm còn là bệnh lý đa cơ quan, tác động nghiêm trọng đến hệ tim mạch và mạch máu.
Khoảng 10% bệnh nhân mắc cúm có tổn thương trực tiếp lên cơ tim, 5% bệnh nhân bị giảm chức năng tâm thu thất trái. Phản ứng viêm của cơ thể sau khi nhiễm cúm làm tăng nguy cơ hội chứng vành cấp. Đồng thời, tình trạng thiếu oxy máu và cường thần kinh giao cảm dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim, khiến suy tim mạn tính nặng hơn. (2)
Thống kê cho thấy, cúm làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim gấp 6 lần, đặc biệt nguy hiểm đối với người có bệnh nền về tim mạch. Với người lớn nhập viện vì cúm, cứ 8 bệnh nhân thì có 1 người bị biến chứng tim mạch nghiêm trọng, trong đó có 7% các trường hợp tử vong. (3)

Bệnh nhân tim mạch khi mắc cúm mùa thường có biểu hiện phức tạp và nghiêm trọng hơn người bình thường. Các triệu chứng thường xuất hiện đan xen và có thể nhanh chóng trở nặng nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời.
Khi nhiễm cúm, virus xâm nhập trực tiếp vào các tế bào cơ tim, gây viêm và phá hủy cấu trúc của cơ tim, ảnh hưởng đến khả năng co bóp để bơm máu nuôi cơ thể. Người bệnh thường gặp các triệu chứng như đau ngực, khó thở, mệt mỏi và nhịp tim không đều. Nếu không được điều trị kịp thời, viêm cơ tim có thể dẫn đến suy tim và các biến chứng nguy hiểm khác.
Khi màng ngoài tim bị viêm sẽ tiết ra dịch viêm và tạo áp lực lên cơ tim, làm suy giảm chức năng bơm máu của tim. Nhiễm trùng do virus, trong đó có virus cúm là nguyên nhân thường gặp dẫn đến viêm màng ngoài tim. Người bệnh cần được điều trị sớm để tránh tích tụ dịch xung quanh tim, dày và xơ hóa màng ngoài tim hoặc chèn ép tim.
Nhiễm cúm làm suy yếu hệ miễn dịch, tạo điều kiện cho vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu khuẩn xâm nhập vào máu, bám vào van tim hoặc nội mạc tim, gây viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Bệnh nhân bị nhiễm trùng tim thường sốt cao kéo dài, đau ngực và các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân.
>> Xem thêm: Sốt có làm tăng huyết áp không?
Tăng đông máu là tình trạng đặc biệt nguy hiểm ở người có sẵn bệnh tim mạch. Virus cúm có thể kích hoạt hệ thống đông máu của cơ thể, hình thành cục máu đông. Cục máu đông có thể di chuyển trong hệ thống tuần hoàn và gây tắc nghẽn các mạch máu quan trọng, gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tắc mạch phổi.
Quá trình viêm do virus cúm đẩy nhanh sự hình thành và phát triển của mảng xơ vữa trong lòng động mạch, khiến lòng mạch bị thu hẹp hoặc tắc nghẽn. Quá trình này làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở người bệnh.
Cúm có thể gây biến chứng suy tim cấp tính, khiến tim không thể bơm đủ máu đến các cơ quan trong cơ thể. Người bệnh có thể xuất hiện khó thở dữ dội, đặc biệt khi nằm hoặc về đêm, mệt mỏi cực độ, tim đập nhanh, phù chân, phù phổi, trong trường hợp nặng có thể tụt huyết áp, thiểu niệu hoặc sốc tim. Suy tim cấp tính cần được điều trị khẩn cấp tại bệnh viện để tránh các biến chứng đe dọa tính mạng.
Hệ thống dẫn truyền điện của tim có thể bị ảnh hưởng bởi tác động của virus cúm, gây ra các rối loạn nhịp tim nguy hiểm như tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc không đều. Một số rối loạn nhịp tim nghiêm trọng có thể dẫn đến suy tim, đột quỵ, đột tử nếu không được can thiệp kịp thời.
Cơ thể phản ứng viêm khi bị virus cúm tấn công, gây ra cục máu đông, làm tăng huyết áp, thậm chí khiến tim bị tổn thương. Virus cúm tấn công dễ khiến mảng xơ vữa bị vỡ, dẫn đến nhồi máu cơ tim. Người bệnh có nguy cơ nhồi máu cơ tim vào tuần đầu sau khi nhiễm cúm cao gấp 6 lần so với bất kỳ thời điểm nào khác.
Đột tử do tim xảy ra khi tim ngừng hoạt một cách động đột ngột, do rối loạn nhịp tim nguy hiểm như rung thất hoặc nhịp nhanh thất kéo dài. Nhiễm cúm có thể làm tăng nguy cơ đột tử do tim thông qua các cơ chế như viêm cơ tim do virus, nhồi máu cơ tim cấp tính, thuyên tắc phổi cấp tính hoặc suy hô hấp nặng gây thiếu oxy máu. Một số trường hợp có thể có dấu hiệu báo trước như đau ngực, hồi hộp, khó thở hoặc ngất thoáng qua, nhưng cũng có thể xảy ra đột ngột. Đây là tình trạng nguy hiểm, cần được cấp cứu ngay lập tức.

Bệnh nhân tim mạch khi mắc cúm thường có biểu hiện phức tạp và nghiêm trọng hơn người bình thường. Các triệu chứng thường xuất hiện đan xen và có thể nhanh chóng trở nặng nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời.
Các triệu chứng của bệnh tim mạch thường trở nên nặng hơn khi bị nhiễm cúm như:
Những triệu chứng của bệnh cúm có thể biểu hiện từ nhẹ tới nặng, thường dễ gây nhầm lẫn với cảm lạnh. Các triệu chứng điển hình của cúm thường biểu hiện rõ sau khoảng 1-7 ngày tiếp xúc với virus bao gồm:
Người bệnh nên chủ động thăm khám nếu có các triệu chứng nghi ngờ bệnh cúm, đặc biệt là trong thời điểm dịch cúm: sốt cao kéo dài, ho khan, viêm họng, đau đầu, khó thở, đổ nhiều mồ hôi, ớn lạnh, nôn, tiêu chảy, mệt mỏi kiệt sức… Đặc biệt, với người đã có bệnh tim, cần chú ý đến các triệu chứng tim mạch có thể trở nặng hơn khi mắc cúm. Lúc này, người bệnh cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa để thăm khám và điều trị kịp thời, tránh để bệnh tim trở nặng hoặc có biến chứng do cúm.
Để chẩn đoán cúm cho bệnh nhân tim mạch, cần có sự kết hợp nhiều phương pháp giúp phát hiện sớm và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Đầu tiên, bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng, khai thác kỹ tiền sử bệnh tim mạch của người bệnh, hỏi về các triệu chứng điển hình của cúm như sốt, ho, đau họng, đau mắt, mệt mỏi, nôn, tiêu chảy… Sau đó sẽ có chỉ định làm các chẩn đoán cận lâm sàng như:

Hiện tại, chưa có phương pháp để điều trị cúm triệt để. Tuy nhiên, có thể áp dụng các phương pháp giúp giảm nhẹ các triệu chứng, giảm nguy cơ biến chứng lên tim mạch bao gồm:
Đối với người bệnh có sẵn bệnh tim khi nhiễm cúm hoặc có biến chứng tim mạch sau mắc cúm, cần được theo dõi sát các chỉ số sinh tồn và triệu chứng tim mạch tại bệnh viện. Người bệnh nên dành nhiều thời gian để nghỉ ngơi uống đủ nước, có chế độ dinh dưỡng phù hợp để nâng cao hệ miễn dịch, hỗ trợ hồi phục sức khỏe nhanh chóng.
Điều trị biến chứng tim mạch do cúm đòi hỏi sự kết hợp tùy theo tình trạng cụ thể của người bệnh. Một số loại thuốc có thể được sử dụng như: thuốc giảm đau, hạ sốt, thuốc kháng virus, thuốc kháng sinh,… Song song với đó, các loại thuốc điều trị bệnh tim như: thuốc chống đông, thuốc chống loạn nhịp, thuốc giãn mạch, hạ áp hoặc thuốc tăng co bóp cơ tim được chỉ định tùy theo biến chứng cụ thể của người bệnh.
Một số trường hợp biến chứng tim mạch nặng có thể cần đến thở máy, đặt bóng đối xung hỗ trợ tuần hoàn, ECMO hoặc can thiệp mạch vành. Đối với những trường hợp này, nguy cơ tử vong rất cao.
Kiểm tra sức khỏe tim mạch định kỳ ít nhất 6 tháng – 1 năm/lần giúp phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ và có biện pháp điều trị kịp thời. Với người bệnh tim mạch, cần tuân thủ uống thuốc đều đặn và tái khám theo đúng lịch hẹn của bác sĩ. Đặc biệt trong mùa cúm, cần chủ động tiêm phòng cúm và áp dụng các biện pháp phòng ngừa cúm phù hợp với tình trạng bệnh của mình.
Cách tốt nhất để phòng ngừa cúm chính là thực hiện tiêm ngừa cúm hằng năm. Tiêm vaccine có thể giúp ngăn ngừa khoảng 40% nguy cơ mắc bệnh cúm. Nhiều hiệp hội tim mạch trên thế giới như Hiệp hội Tim mạch Mỹ, Hiệp hội Tim mạch châu Âu cũng khuyến cáo bệnh nhân tim mạch nên thực hiện tiêm ngừa cúm hàng năm, điều này sẽ giúp:
Do cúm có khả năng lây nhiễm cao, lây lan trực tiếp qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc nói chuyện. Vì vậy, cần tránh tiếp xúc với người bệnh và hạn chế đến những nơi đông người trong mùa dịch cúm cao điểm. Áp dụng các biện pháp vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, đeo khẩu trang khi ra ngoài, giữ ấm cơ thể khi thời tiết thay đổi và giữ môi trường sống sạch sẽ, thông thoáng để phòng tránh cúm lây nhiễm.
Xây dựng lối sống lành mạnh nhằm nâng cao sức đề kháng, tăng cường sức khỏe tổng thể, giúp giảm nhiễm cúm bằng cách: Có chế độ ăn uống khoa học, vận động thể chất vừa phải, ngủ đủ giấc, tránh căng thẳng, tinh thần thoải mái…
Khi có các dấu hiệu nghi ngờ bệnh cúm, nên đến gặp bác sĩ để thăm khám giúp phát hiện và điều trị sớm, tránh các biến chứng nguy hiểm. Các triệu chứng phổ biến của bệnh cúm bao gồm: ho, mệt mỏi, sốt, cảm thấy ớn lạnh, đau đầu, viêm họng, đau mắt, nôn, tiêu chảy…

Biến chứng tim mạch có thể xuất hiện trong cả giai đoạn nhiễm cúm cấp tính và thời gian sau khi khỏi bệnh. Các biến chứng như viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim thường xuất hiện trong tuần đầu tiên của bệnh cúm khi phản ứng viêm toàn thân đang ở mức cao nhất. Một số biến chứng như xơ vữa động mạch hay suy tim có thể phát triển từ từ và biểu hiện trong vài tuần đến vài tháng sau khi khỏi cúm.
Bệnh nhân tim mạch nên tiêm vaccine cúm hàng năm vì đây là biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp giảm nguy cơ bệnh tim tiến triển nặng, tránh biến chứng nguy hiểm, giảm tỷ lệ nhập viện và tỷ lệ tử vong.
Bệnh nhân tim mạch có nguy cơ tử vong cao khi mắc cúm so với người không có bệnh nền. Virus cúm không chỉ làm trầm trọng thêm các bệnh tim mạch sẵn có mà còn có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm đe dọa tính mạng như nhồi máu cơ tim, đột quỵ.
ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM nhấn mạnh, mỗi người đều nên chủ động tiêm vaccine ngừa cúm, đặc biệt là nhóm đối tượng có nguy cơ cao như bệnh nhân tim mạch, người lớn tuổi… nhằm giúp phòng bệnh cho bản thân và tránh lây bệnh cho người xung quanh.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Các biến chứng tim mạch do bệnh cúm gây ra vô cùng nguy hiểm. Vì vậy, tiêm vaccine ngừa cúm hàng năm được xem là chỉ định bắt buộc giúp cải thiện tiên lượng cho người bệnh nhân tim mạch. Đồng thời, người bệnh cần có lối sống khoa học, dinh dưỡng hợp lý và vận động đều đặn để giúp tăng cường sức đề kháng, phòng ngừa cúm hiệu quả.