HPV type 6 là chủng virus phổ biến, gây ra các tình trạng u nhú như sùi mào gà, mụn cóc sinh dục… ở cả nam và nữ giới. Mặc dù là chủng virus tương đối lành tính nhưng ảnh hưởng khá nhiều đến sức khỏe và nhịp độ sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, thậm chí có thể tiến triển thành những tổn thương nghiêm trọng nếu không điều trị kịp thời.
Bài viết được tư vấn Y khoa bởi BS Huỳnh Trần An Khương – Quản lý Y khoa vùng 2 Hồ Chí Minh, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC

HPV type 6 là một chủng virus gây u nhú phổ biến ở người. HPV type 6 là chủng nguy cơ thấp, gây ra phần lớn tình trạng mụn cóc sinh dục, sùi mào gà ở người nhiễm bệnh và hiếm khi gây ra tình trạng ung thư. Mặc dù là virus khá lành tính nhưng nếu người nhiễm chủng virus này không can thiệp y tế đúng cách có thể gây ra biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng khả năng sinh sản, thậm chí có nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung ở nữ giới và ung thư dương vật ở nam giới.
Theo các chuyên gia nghiên cứu, dù HPV type 6 không nằm trong nhóm 12 type HPV nguy cơ cao gây ung thư, nhưng gây ra các triệu chứng khó chịu, đau đớn, ngứa ngáy cho người nhiễm bệnh.
Bên cạnh đó, HPV type 6 vẫn ẩn chứa nguy hiểm tiềm ẩn đe dọa sức khỏe và tính mạng của người nhiễm bệnh. Các triệu chứng điển hình do HPV type 6 gây ra như mụn cóc sinh dục, sùi mào gà,… có thể âm thầm tiến triển thành các tổn thư tiền ung thư nguy hiểm. Đối với những người bệnh nhiễm HPV type 6 không có sự can thiệp kịp thời và điều trị đúng cách, các triệu chứng tưởng chừng không nghiêm trọng có thể chuyển biến thành ung thư sau vài năm. (1)
HPV type 6 được nhận định là không quá nguy hiểm, triệu chứng bệnh có thể tự biến mất sau một khoảng thời gian. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người bệnh được quyền chủ quan vì HPV type 6 có thể gây ra những bệnh lý ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh hoạt hàng ngày, cụ thể như sau:
Mụn cóc sinh dục là những nốt mụn, sưng, u nhú nhỏ có màu da hoặc màu hồng xung quanh bộ phận sinh dục như âm đạo, dương vật, hậu môn ở cả nam và nữ giới. Theo thống kê, có hơn 90% trường hợp mụn cóc sinh dục do HPV type 6 gây ra.
Mụn cóc sinh dục là bệnh lành tính, có thể điều trị và chữa khỏi nhanh chóng nếu được can thiệp kịp thời. Mặc dù mụn cóc sinh dục có thể tự biến mất mà không cần điều trị nhưng thời gian sẽ khá lâu, gây cản trở đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Thông thường, các nốt mụn cóc sẽ gây ra tình trạng ngứa ngáy, sưng đau, viêm nhiễm ở cơ quan sinh dục, thậm chí ảnh hưởng đến khả năng sinh sản về sau và chuyển biến thành ung thư.
Đáng lưu ý, yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến tình trạng mụn cóc sinh dục ở mọi đối tượng là do vệ sinh bộ phận sinh dục kém, mặc quần lót ẩm ướt, bao quy đầu dài, viêm âm hộ âm đạo,… Thời gian ủ bệnh của HPV type 6 trong vòng 1-6 tháng, dễ dàng lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục và tiếp xúc dịch tiết với người bệnh, thậm chí có thể lây truyền từ mẹ sang con.

Sùi mào gà (hay còn gọi là bệnh mồng gà) là bệnh biểu hiện những nốt sùi mềm trên bề mặt da hoặc niêm mạc, có thể tụ mủ bên trong, gây đau đớn và khó chịu cho người nhiễm bệnh. HPV type 6 được cho là nguyên nhân chính gây ra bệnh sùi mào gà ở cả nam và nữ giới.
Theo các chuyên gia, bệnh sùi mào gà có liên quan mật thiết với các bệnh ung thư, làm gia tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở nữ và ung thư dương vật ở nam giới. Theo nghiên cứu, có khoảng 4,7-10,2% nữ giới bị sùi mào gà tại tử cung sẽ tiến triển thành ung thư cổ tử cung sau này. Đồng thời, có khoảng 15% nam giới bị sùi mào gà sẽ dẫn đến ung thư dương vật sau vài năm.
Đặc biệt, sùi mào gà có nguy cơ gây ra các biến chứng nghiêm trọng nếu không được can thiệp và điều trị kịp thời, cụ thể như: ung thư, ảnh hưởng đến thai phụ và thai nhi trong thời kỳ mang thai, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản,…

3. U nhú đường hô hấp tái phát (RRP)
U nhú đường hô hấp tái phát (RRP) là tình trạng tổn thương lành tính ở thanh quản (trên dây thanh âm) và khí quản, gây ra các triệu chứng đặc trưng như khàn giọng, khó thở, tắc nghẽn đường hô hấp.
Bệnh RRP hầu như có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em từ 1-4 tuổi. Trẻ trong lứa tuổi này thường có kích thước thanh quản hẹp và nhỏ nên khi mắc RRP sẽ gặp khó khăn khi hô hấp và ăn uống.

U nhú tại bộ phận thanh quản ở người nhiễm HPV Type 6.
Giống như các chủng HPV khác, HPV type 6 có khả năng lây nhiễm nhanh chóng và dễ dàng, bao gồm:
Để chẩn đoán một người có bị nhiễm HPV nói chung và xác nhận nhiễm chủng HPV nào nói riêng như HPV type 6, bác sĩ thường sẽ sử dụng kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử để xác định và nhận biết chủng HPV ở người nhiễm bệnh.
Kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử được tiến hành bằng cách sử dụng bệnh phẩm để phát hiện đoạn gen đặc hiệu của HPV (HPV-DNA) với độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao. Kỹ thuật xét nghiệm này bao gồm: Kỹ thuật tổng hợp PCR, kỹ thuật Real – time PCR, điện di trên gel và giải trình tự gene. Trong đó, phương pháp xét nghiệm Real – time HPV PCR là phương pháp được sử dụng phổ biến vì có tốc độ chẩn đoán HPV nhanh và chính xác nhất.
Bên cạnh xét nghiệm sinh học phân tử, phương pháp xét nghiệm Pap bằng việc phết mỏng cổ tử cung lên lam kính, nhuộm và soi dưới kính hiển vi cũng được thực hiện để chẩn đoán nhiễm HPV. Tuy nhiên, phương pháp này không thể xác định chủng HPV mắc phải và độ nhạy không cao bằng kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử.

Các bệnh do HPV type 6 gây ra thường khá lành tính và có thể chữa được nếu can thiệp kịp thời. Hiện các bệnh do HPV gây ra không có thuốc điều trị đặc hiệu, nên bác sĩ thường sẽ điều trị các triệu chứng bệnh gây ra bởi HPV chủng 6 như sau:
Một số phương pháp điều trị mụn cóc sinh dục như sau:
Sùi mào gà là bệnh nhiễm trùng ở bộ phận sinh dục, gây ra đau đớn, ngứa ngáy và để lại hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khả năng sinh, thậm chí có nguy cơ phát triển thành tế bào ung thư. Bệnh sùi mào gà không có điều trị đặc hiệu nhưng có thể làm thuyên giảm triệu chứng và loại bỏ tổn thương do HPV gây ra, người bệnh có thể sử dụng các phương pháp điều trị như sau:
Điều trị u nhú đường hô hấp tái phát (RRP) bằng cách phẫu thuật cắt bỏ u nhú để giải quyết tình trạng nghẹt thở. Một số phương pháp điều trị u nhú đường hô hấp tái phát RRP như sau:
Ngoài ra còn một số phương pháp khác để điều trị bệnh như: Vi phẫu thuật thanh quản cắt u nhú, soi thanh quản treo cắt u nhú, laser CO2 cắt u nhú ở thanh khí phế quản, dùng dao PIPE cắt u nhú,…
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tiêm vắc xin là cách tốt nhất để ngăn ngừa nhiễm HPV, ung thư cổ tử cung và các loại ung thư liên quan đến HPV khác. Hiện tại, có hai loại vắc xin là Gardasil và Gardasil 9 đang được cấp phép lưu hành, đảm bảo an toàn và mạng hiệu quả phòng ngừa cao.
Tham khảo thông tin chi tiết vắc xin phòng HPV tại đây.
(*) Lưu ý: Giá vắc xin tại VNVC đã bao gồm: miễn phí khám với đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao, miễn phí các dịch vụ chăm sóc Khách hàng cao cấp (trung tâm rộng lớn, phòng khám phòng tiêm hiện đại, máy điều hoà 2 chiều, nước uống sạch, khu vui chơi rộng rãi sinh động, nhiều tiện ích riêng biệt cho Khách hàng như phòng cho mẹ và bé, khu vệ sinh riêng cho trẻ em, khu vực sử dụng tã/ bỉm/ khăn giấy miễn phí, sạc điện thoại miễn phí, miễn phí hoặc hỗ trợ phí giữ xe…); phí dành cho hệ thống cấp cứu xử trí phản ứng sau tiêm ngay tại trung tâm VNVC (nếu có); phí cho tài liệu, ấn phẩm phục vụ Khách hàng (sổ tiêm, phiếu tiêm, tài liệu thông tin về các bệnh dịch, vắc xin, các chương trình giáo dục cộng đồng về vắc xin và tiêm chủng…); chi phí cuộc gọi, tin nhắn (SMS) nhắc lịch tiêm vắc xin; phí chăm sóc Khách hàng trên đa nền tảng (tổng đài, mạng xã hội, tại trung tâm…); phí lưu trữ thông tin lịch sử tiêm chủng…
Việc khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc ung thư là cách để phát hiện những tổn thương do HPV sớm nhất, giúp kịp thời điều trị trước khi mầm bệnh phát triển thành ung thư. Mỗi người nên thực hiện khám sức khỏe theo định kỳ 6 tháng một lần để kiểm tra tình trạng sức khỏe của bản thân.
Đặc biệt, nữ giới từ 21 tuổi trở lên, nên thực hiện các phương pháp tầm soát ung thư cổ tử cung theo chu kỳ 3 năm một lần để phát hiện sớm tình trạng ung thư trong cơ thể. Vì ung thư cổ tử cung thường tiến triển âm thầm, có thời gian ủ bệnh lâu, khi bùng phát triệu chứng thường ở giai đoạn cuối nên việc tầm soát ung thư từ sớm sẽ giúp phát hiện mầm bệnh và can thiệp điều trị kịp thời, hạn chế đe dọa tính mạng của người bệnh.
Các chuyên gia khuyến nghị, phụ nữ từ 30-65 tuổi nên duy trì tầm soát ung thư 3 năm/ lần hoặc 5 năm/ lần. Khi bước vào giai đoạn 65 tuổi, nếu xét nghiệm cho ra kết quả bình thường thì có thể dừng việc thực hiện tầm soát ung thư.
Theo số liệu thống kê, phần lớn trường hợp nhiễm HPV ở cả nam và nữ giới đều là lây lan qua quan hệ tình dục không an toàn và quan hệ bừa bãi. Do đó, để giảm thiểu tối đa nguy cơ lây nhiễm HPV nói chung và HPV type 6 nói riêng, mọi người nên duy trì quan hệ chung thủy một vợ một chồng, không quan hệ với nhiều bạn tình.
Trong trường hợp quan hệ với bạn tình mới, cần tránh giao hợp qua hậu môn vì khả năng lây nhiễm HPV rất cao. Đồng thời, sử dụng các biện pháp tình dục an toàn như bao cao su, miếng dán nha khoa để ngăn tiếp xúc trực tiếp giữa niêm mạc và bộ phận sinh dục.
Việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, đặc biệt ở bộ phận sinh dục giúp tránh gây viêm nhiễm phụ khoa, hạn chế tình trạng lây nhiễm HPV cho mọi đối tượng. Bạn nên thực hiện vệ sinh cơ quan sinh dục bằng nước sạch và các dung dịch vệ sinh có độ PH phù hợp, tránh để vùng nhạy cảm bị ẩm ướt vì sẽ làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh.
Đặc biệt, đối với nữ giới trong kỳ kinh nguyệt, cần đặc biệt lưu ý vệ sinh sạch sẽ và nhẹ nhàng. Ngoài ra, mọi đối tượng cũng nên vệ sinh bằng nước và dung dịch vệ sinh cơ quan sinh dục sau khi quan hệ để hạn chế nguy cơ lây nhiễm HPV vào bên trong cơ thể.
Theo các chuyên gia y tế, ăn uống theo chế độ dinh dưỡng khoa học sẽ hỗ trợ tăng cường sức đề kháng chống lại nguy cơ mầm bệnh tấn công. Đặc biệt, các loại thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất như trái cây, rau củ,… nên được bổ sung hàng ngày. Đồng thời, ăn đầy đủ các nhóm chất như tinh bột, chất đạm và chất béo ở lượng phù hợp, đảm bảo đầy đủ 3 bữa chính và 1- 2 bữa phụ tùy theo nhu cầu.
Bên cạnh đó, người bệnh cần duy trì lối sống khoa học, ngủ đủ và ngon giấc, hạn chế căng thẳng, rèn luyện thể dục thể thao, tránh tiếp xúc nhiều với chất kích thích như rượu bia, thuốc lá,…

HPV type 6 thường không gây ung thư nhưng là tác nhân chủ yếu gây ra các tình trạng mụn cóc sinh dục, sùi mào gà, u nhú đường hô hấp tái phát,… ở người nhiễm bệnh. Đây là các bệnh tương đối lành tính nhưng gây ra các cảm giác đau rát, khó chịu, ngứa ngáy cho người bệnh. Theo nhiều nghiên cứu, mặc dù không trực tiếp gây ung thư nhưng nếu người bệnh nhiễm HPV type 6 không được điều trị kịp thời và đúng cách, sẽ để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, có nguy cơ dẫn đến vô sinh hoặc thậm chí phát triển thành ung thư.
HPV type 6 có thể tồn tại trong cơ thể người nhiễm bệnh khoảng vài năm. Hầu hết các trường hợp ở người khỏe mạnh, cơ thể có khả năng tự đào thải virus trước khi triệu chứng kịp khởi phát mà không cần phải điều trị.
Tuy nhiên, ở những người có hệ miễn dịch yếu, khả năng đào thải virus sẽ thấp hơn cho nên việc tiêm vắc xin vẫn là biện pháp cần thiết để phòng bệnh.
Các tổn hại từ các bệnh do HPV type 6 gây ra không thể loại bỏ vĩnh viễn, đặc biệt bệnh thường dễ tái phát và lây nhiễm. Theo các bác sĩ, bệnh do HPV 6 gây ra như mụn cóc sinh dục, sùi mào gà,… nếu không cảm thấy đau, ngứa ngáy hay khó chịu thì có thể không cần phải điều trị. Trong trường hợp cảm thấy rát, ngứa ngáy,… cần đến gặp bác sĩ để được can thiệp và điều trị nhanh chóng.
Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào về vắc xin Gardasil và Gardasil 9 tại VNVC, quý Khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với VNVC thông qua hotline 028.7102.6595 hoặc inbox qua fanpage facebook VNVC – Trung tâm Tiêm chủng Trẻ em & Người lớn hoặc đến ngay các trung tâm tiêm chủng VNVC trên toàn quốc để được nhân viên chăm sóc Khách hàng hướng dẫn chi tiết, được bác sĩ thăm khám sàng lọc, tư vấn sức khỏe và chỉ định tiêm ngừa phù hợp. Tra cứu trung tâm tiêm chủng VNVC gần nhất tại đây.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
HPV type 6 là chủng virus phổ biến, gây ra nhiều bệnh đường sinh dục cho cả nam và nữ giới. Các bệnh do HPV type 6 gây ra tuy lành tính nhưng ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của người nhiễm bệnh. Đáng lưu ý, một số trường hợp bệnh chuyển biến thành các biến chứng nguy hiểm, nguy cơ phát triển thành các tổn thương tiền ung thư nghiêm trọng. Vì vậy, mọi đối tượng từ 9 – 45 tuổi, nên chủ động tiêm phòng vắc xin để ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm và hạn chế tối đa tác hại của bệnh.