Ung thư biểu mô tuyến vú rất phổ biến nhất ở phụ nữ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tâm lý người bệnh. Bệnh xảy ra khi các tế bào tuyến vú phát triển bất thường, hình thành khối u ác tính có khả năng xâm lấn và di căn. Vậy ung thư biểu mô tuyến vú là gì? Nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và điều trị bệnh như thế nào? Bài viết dưới đây, thạc sĩ bác sĩ chuyên khoa II Phạm Tuấn Mạnh, Khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM sẽ đưa ra thông tin tổng quan về ung thư biểu mô tuyến vú.
Ung thư biểu mô tuyến vú là gì?
Ung thư biểu mô tuyến vú là tình trạng tế bào ung thư bắt đầu từ tế bào mô tuyến. Trong cơ thể, mô tuyến thường có trong ống dẫn và tiểu thùy vú nên ung thư vú bắt đầu từ ống dẫn hoặc tiểu thùy vú đều thuộc loại ung thư biểu mô tuyến.
Nguyên nhân gây ung thư biểu mô tuyến vú
Một số nguyên nhân gây ung thư biểu mô tuyến vú, bao gồm:
Giới tính: phụ nữ có nguy cơ ung thư biểu mô tuyến vú cao hơn.
Tuổi: nguy cơ mắc bệnh ung thư biểu mô tuyến vú tăng theo tuổi.
Tiền sử gia đình: bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư biểu mô tuyến vú cao nếu gia đình có người đã hoặc đang mắc bệnh này.
Đột biến gen di truyền: một số đột biến gen như BRCA1 và BRCA2 có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư biểu mô tuyến vú.
Liệu pháp thay thế hormone: người sử dụng liệu pháp thay thế hormone (HRT) trong thời gian dài có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tuyến vú.
Yếu tố sinh sản: phụ nữ có kinh nguyệt sớm, mãn kinh muộn và sinh con đầu lòng ở tuổi trên 30 có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư biểu mô tuyến vú.
Ung thư biểu mô tuyến là tình trạng tế bào ung thư bắt đầu từ tế bào mô tuyến (thường có trong ống dẫn và tiểu thùy vú).
Triệu chứng ung thư biểu mô tuyến vú
Triệu chứng ung thư biểu mô tuyến vú ở giai đoạn sớm ít nhận thấy được dấu hiệu bệnh và thường phát hiện thông qua phương pháp chụp nhũ ảnh. Tuy nhiên, người bệnh có thể lưu ý một số dấu hiệu cảnh báo như:
Thay đổi về hình dạng hoặc kích thước vú.
Sưng vú.
Da vú đỏ hoặc bong tróc.
Có dịch máu chảy ra từ núm vú.
Da vú có vết lõm hoặc không đều màu.
Các dạng ung thư biểu mô tuyến vú
Hầu hết ung thư bắt đầu ở ống dẫn sữa và tiểu thùy đều thuộc ung thư biểu mô tuyến vú. Dưới đây là các dạng ung thư biểu mô tuyến vú, bao gồm:
1. Ung thư biểu mô ống dẫn tại chỗ (DCIS)
Ở ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ là tình trạng tế bào ung thư xuất hiện trong ống dẫn sữa. Bệnh thuộc nhóm ung thư vú giai đoạn sớm, không xâm lấn.
2. Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS)
Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ là tình trạng tế bào ung thư được tìm thấy trong tiểu thùy vú nhưng chưa lan sang các mô xung quanh. Bệnh cũng thuộc nhóm ung thư vú giai đoạn sớm nhưng có thể lan ra mô vú xung quanh ống dẫn sữa nếu không điều trị kịp thời.
3. Ung thư biểu mô ống xâm lấn
Ung thư biểu mô ống xâm lấn là tình trạng tế bào ung thư xuất hiện trong ống dẫn sữa và bắt đầu lan rộng ra các mô xung quanh ống này. Bệnh chiếm khoảng 80% trường hợp ung thư vú.
4. Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn (ILC)
Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn (ILC) là tình trạng tế bào ung thư xuất hiện ở tiểu thùy (tuyến sản xuất sữa) của vú và có thể lan sang hạch bạch huyết hoặc bộ phận khác trong cơ thể. Bệnh ít phổ biến hơn ung thư ống tuyến vú nhưng vẫn chiếm 10%-15% trong các bệnh ung thư vú. Tuy nhiên, ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn có tiên lượng tốt hơn ung thư biểu mô ống tuyến vú xâm lấn với tỷ lệ sống sau 5 năm 77%-93%.
5. Các thể hiếm gặp khác
Một số dạng ung thư biểu mô tuyến hiếm gặp và chuyên biệt hơn, chiếm không quá 6% tổng số bệnh ung thư vú, gồm:
Ung thư thể vi nhú (micropapillary): chiếm 1%-2% trường hợp ung thư vú. Bệnh có thể xuất hiện ở nam giới và phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh.
Ung thư thể nhầy (mucinous): chiếm 3% trường hợp ung thư vú. Bệnh ít xuất hiện ở phụ nữ trẻ và có xu hướng ảnh hưởng đến phụ nữ 60 tuổi. Khối u của ung thư vú thể nhầy có thể phát triển rất lớn và thường mềm khi chạm vào.
Ung thư thể tủy (medullary): loại này ít hung hãn và chiếm 3%-5% trường hợp ung thư vú. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, đặc biệt phụ nữ 40-50 tuổi hoặc người mang đột biến BRCA1.
Ung thư thể ống nhỏ (tubular): chiếm 1%-2% trường hợp ung thư vú. Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ 50 tuổi. Khối u ung thư này thường nhỏ, phụ thuộc nhiều vào estrogen và HER2 âm tính.
Ung thư vú dạng viêm (inflammatory breast cancer – IBC): chiếm 1%-6% trường hợp ung thư vú. Ung thư vú dạng viêm có tính hung hãn và di căn nhanh, ngay cả ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên, triệu chứng bệnh khá dễ nhầm với các tình trạng ung thư vú lành tính phổ biến khác. Vì vậy, người bệnh có triệu chứng bất thường ở vú hãy đến gặp bác sĩ sớm để được làm các xét nghiệm chẩn đoán ung thư vú nhằm điều trị kịp thời, đặc biệt phụ nữ trẻ hoặc đang mang thai, cho con bú.
Ung thư vú dạng sàng: chiếm 5%-6% trường hợp ung thư vú. Bệnh không có đặc điểm lâm sàng cụ thể nào nên thường được chẩn đoán bằng mô học sau khi chụp nhũ ảnh.
Ung thư biểu mô tuyến vú có nguy hiểm không?
Có, ung thư biểu mô tuyến vú nguy hiểm nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời. Thực tế, mức độ nguy hiểm còn tùy thuộc vào giai đoạn, loại mô bệnh học, đặc điểm phân tử và thời gian phát hiện bệnh ung thư vú biểu mô tuyến vú.
Giai đoạn phát triển ung thư biểu mô tuyến vú
Ung thư biểu mô tuyến vú giống như các loại ung thư khác có thể được phân loại để xác định mức độ lan rộng của khối u. Phân loại thường từ giai đoạn 0 (tại chỗ, khi ung thư chưa xâm lấn các mô xung quanh khối u) đến giai đoạn IV (ung thư tiến triển đã lan đến các cơ quan xa). Cụ thể:
1. Giai đoạn 0
Ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn 0 là giai đoạn sớm nhất, tế bào ung thư chưa xâm lấn (chưa lan ra ngoài vị trí ban đầu trong mô vú) nên có khả năng điều trị khỏi bệnh cao nếu phát hiện sớm. Đặc biệt, DCIS là dạng ung thư vú sớm nhất. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cho biết, người mắc bệnh mắc ung thư vú giai đoạn này có tỷ lệ sống sau 5 năm tới 99%. (1)
2. Giai đoạn I
Ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn I là ung thư giai đoạn sớm, khu trú và có khả năng điều trị và sống cao. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cho biết, tỷ lệ sống tương đối 5 năm của bệnh ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn này là 99%.
3. Giai đoạn II
Ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn II là ung thư vú xâm lấn giai đoạn tương đối sớm với tình trạng tế bào ung thư đã phát triển nhưng vẫn nằm trong mô vú hoặc chỉ lan rộng đến hạch bạch huyết nách (hạch bạch huyết gần vú nhất).
4. Giai đoạn III
Ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn III là ung thư vú tiến triển tại chỗ, tế bào ung thư đã lan ra đến mô vú xung quanh khối u và vào hạch bạch huyết hoặc cơ gần vú. Khối u ung thư vú giai đoạn 3 lớn hơn khối u trong ung thư vú giai đoạn 1 hoặc giai đoạn 2. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cho biết, tỷ lệ sống sau 5 năm với bệnh ung thư vú giai đoạn 3 là 87%.
5. Giai đoạn IV
Ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn IV là tình trạng tế bào ung thư vú tiến triển đã di căn hoặc lan rộng từ vị trí ban đầu ở vú đến các cơ quan khác của cơ thể như: xương, phổi, gan hoặc não. Bệnh ở giai đoạn 4 là ung thư vú di căn hoặc ung thư vú tái phát.
Ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn IV là ung thư vú di căn hoặc ung thư vú tái phát.
Chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú
Phương pháp chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú, bao gồm:
Siêu âm vú: Siêu âm vú là phương tiện chẩn đoán không xâm lấn, giúp phân biệt mô mỡ, mô tuyến vú, nang và bướu đặc. Ung thư vú trên siêu âm thường cho hình ảnh echo kém, giới hạn không rõ, tăng sinh mạch máu… Siêu âm vú có thể phát hiện những bướu không sờ thấy, cũng như định vị khối u trong chọc hút tế bào bằng kim nhỏ hoặc sinh thiết lõi kim, định vị kim trong những sang thương thấy được trên siêu âm.
Chụp nhũ ảnh thường quy: sử dụng trong việc tầm soát định kỳ. Phương pháp này có thể giúp người bệnh phát hiện kịp thời dấu hiệu ung thư biểu biểu mô tuyến vú giai đoạn sớm.
Sinh thiết: lấy mẫu mô bất thường ra khỏi cơ thể và mang đi kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định sự hiện diện của ung thư. Sinh thiết có thể thực hiện bằng sinh thiết lõi kim (core biopsy) dưới hướng dẫn siêu âm, sinh thiết vú có hỗ trợ hút chân không (VABB – Vacuum-assisted breast biopsy) hoặc sinh thiết mở (sinh thiết một phần hoặc sinh thiết trọn bướu).
Chụp CT Scan: Thường được sử dụng trong việc đánh giá di căn xa (ngực, bụng, sọ não).
Chụp MRI (cộng hưởng từ) vú : Dùng đánh giá những tổn thương nhỏ, mô vú dày, bướu đa ổ, bệnh nhân có đặt túi ngực hoặc tiền căn gia đình có ung thư vú.
Phương pháp điều trị ung thư biểu mô tuyến vú
Một số phương pháp điều trị ung thư biểu mô tuyến vú, bao gồm:
Phẫu thuật: loại bỏ mô tuyến ung thư và các mô tuyến vú xung quanh khối u. Tùy vào giai đoạn, kích thước bướu và mong muốn của người bệnh bác sĩ có thể lựa chọn các phương pháp phẫu thuật đối với bướu nguyên phát như: phẫu thuật bảo tồn, đoạn nhũ, đoạn nhũ tái tạo tức thời (bằng túi, vạt cơ lưng hoặc vạt cơ thẳng bụng) hoặc đoạn nhũ và tái tạo trì hoãn, phối hợp với xử lý hạch nách như: sinh thiết hạch gác cửa – đối với trường hợp chưa di căn hạch nách hoặc nạo hạch nách (trường hợp có di căn hạch nách).
Hóa trị: sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Tùy vào giai đoạn mà có thể sử dụng hóa trị tiền phẫu (trước phẫu thuật) làm thu nhỏ khối bướu tăng khả năng điều trị bảo tồn vú, làm giảm giai đoạn ung thư vú từ không mổ được thành mổ được hoặc hóa trị hỗ trợ (sau khi phẫu thuật).
Xạ trị: xạ trị là một phần sau của liệu pháp bảo tồn vú: cắt góc tư vú hoặc cắt rộng bướu, làm giảm nguy cơ tái phát. Xạ trị sau đoạn nhũ: xạ trị vào thành ngực và hạch nách làm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ tại vùng.
Liệu pháp nội tiết: Đối với ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính. Làm giảm nguy cơ tái phát và tử vong.
Liệu pháp nhắm trúng đích: là liệu pháp nhằm vào các đích phân tử nằm trên bề mặt tế bào. Đối với ung thư vú là thụ thể Her – 2. Sự hiện diện của thụ thể HER2 có thể dẫn đến sự phát triển và tăng sinh của bệnh ung thư dương tính với HER2. Vì vậy, thuốc can thiệp vào thụ thể này sẽ cản trở tín hiệu đến tế bào ung thư và hạn chế chúng phát triển.
Liệu pháp miễn dịch: không trực tiếp tấn công tế bào ung thư. Liệu pháp này sẽ thúc đẩy hệ thống miễn dịch của cơ thể tìm và tiêu diệt tế bào ung thư.
Phòng ngừa ung thư biểu mô tuyến vú
Một số cách phòng ngừa ung thư biểu mô tuyến vú, bao gồm:
Tầm soát định kỳ: chụp nhũ ảnh từ 40 tuổi và có thể sớm hơn nếu thuộc nhóm yếu tố nguy cơ cao mắc ung thư biểu mô tuyến vú.
Duy trì cân nặng phù hợp.
Tập thể dục 150 phút/tuần.
Hạn chế nước uống có cồn như rượu, bia.
Xét nghiệm gen để phòng đột biến BRCA (nhóm yếu tố nguy cơ mắc ung thư biểu mô tuyến vú cao).
Hãy tập thể dục 150 phút/tuần để giảm nguy cơ ung thư biểu mô tuyến vú.
Câu hỏi liên quan
1. Ung thư biểu mô tuyến vú có di truyền không?
Có, ung thư biểu mô tuyến vú có di truyền, đặc biệt người mang gen BRCA. Vì vậy, chị em có người thân trong gia đình mắc bệnh ung thư vú hãy đến gặp bác sĩ để được làm xét nghiệm di truyền, tư vấn lịch tầm soát ung thư vú phù hợp để kịp thời phát hiện bệnh (nếu có) và điều trị giai đoạn sớm, ngừa biến chứng nghiêm trọng.
2. Ung thư biểu mô tuyến vú có chữa được không?
Có, ung thư biểu mô tuyến vú có thể chữa được nếu phát hiện giai đoạn sớm và điều trị kịp thời bởi bác sĩ chuyên khoa vú. Thực tế, tiên lượng bệnh ung thư biểu mô tuyến vú còn tùy thuộc vào giai đoạn, loại ung thư, phương pháp điều trị… Vì vậy, phụ nữ hãy tầm soát ung thư vú định kỳ và nếu nhận thấy dấu hiệu bất thường ở vú hãy đến bệnh viện để được chẩn đoán và lên liệu trình điều trị kịp thời, tăng tỷ lệ sống.
3. Địa chỉ tầm soát và điều trị ung thư biểu mô tuyến vú uy tín và riêng tư
Khách hàng muốn tìm địa chỉ tầm soát và điều trị ung thư biểu mô tuyến vú uy tín và riêng tư hãy tham khảo Đơn vị Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Trung tâm Khám chữa bệnh Tâm Anh Quận 7 hoặc Khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM. 2 cơ sở y tế này quy tụ chuyên gia, bác sĩ giàu kinh nghiệm và kết hợp nhiều máy móc tân tiên trên thế giới khám, tầm soát chẩn đoán và đưa ra liệu trình điều trị toàn diện.
Thạc sĩ bác sĩ chuyên khoa II Phạm Tuấn Mạnh, Khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM đang tư vấn cho khách hàng.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Thông qua bài “Ung thư biểu mô tuyến vú: Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị” người bệnh hiểu hơn về mức độ nguy hiểm của bệnh ung thư biểu mô tuyến vú. Tuy nhiên, người bệnh yên tâm vì ung thư này có thể kiểm soát tốt nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời bằng các phương pháp như: phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và liệu pháp nhắm trúng đích… Đồng thời, người bệnh hãy tầm soát định kỳ, duy trì lối sống lành mạnh và nhận biết dấu hiệu cảnh báo ung thư biểu mô tuyến vú sớm để đến gặp bác sĩ điều trị kịp thời, ngừa biến chứng nghiêm trọng.
Cập nhật lần cuối: 15:47 26/05/2025
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Team, N. (2025, April 16). Stage 0 Breast cancer – symptoms, treatment & survival rate. National Breast Cancer Foundation. https://www.nationalbreastcancer.org/breast-cancer-stage-0/