Ở tuổi 22, khi bạn bè chuẩn bị tốt nghiệp đại học với bao hoài bão, Huyền Thư phải bước vào điều trị ung thư vú. Sau phẫu thuật, ban ngày cô đến bệnh viện xạ trị, trở về phòng trọ hoàn thiện luận văn tốt nghiệp, không cho phép mình từ bỏ ước mơ.

Huyền Thư (22 tuổi, Đà Nẵng), sinh viên năm cuối, phát hiện ngực có khối u cộm từ nhiều tháng trước. Nghĩ đó chỉ là thay đổi sinh lý theo chu kỳ mỗi tháng, nhưng khi kỳ kinh kết thúc, khối u vẫn tồn tại và không có dấu hiệu nhỏ lại.
Giữa năm 2025, Thư đi khám bệnh tại một bệnh viện tại Hà Nội, được chẩn đoán vú trái BIRADS 3 – nhóm tổn thương có khả năng lành tính. Gia đình không có tiền sử ung thư, kết quả thăm dò ban đầu chưa cho thấy dấu hiệu ác tính rõ ràng, bác sĩ khuyên nên theo dõi sát.
Ba tháng sau, khối u không biến mất mà tăng kích thước nhanh. Lần sinh thiết tiếp theo đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời cô gái trẻ. Kết quả giải phẫu bệnh xác định Thư có ung thư biểu mô tuyến thể nhầy vú trái.
“Cầm kết quả trên tay, tôi choáng váng, bước không nổi. Tôi chưa từng nghĩ ung thư lại đến với mình sớm như vậy”, Thư nhớ lại.
Ở tuổi 22, khi là một sinh viên giỏi với tương lai rộng mở phía trước, Thư từng ấp ủ dự định sau khi tốt nghiệp đại học sẽ đầu quân cho một doanh nghiệp nước ngoài. Thế nhưng, chẩn đoán ung thư buộc cô gái trẻ buộc phải tạm gác kế hoạch để bước vào một hành trình hoàn toàn khác: Nam tiến để điều trị ung thư.
Sau cú sốc ban đầu, cô và gia đình nhanh chóng vượt qua, quyết định không buông xuôi. “Bệnh tật có thể làm chậm con đường phía trước, nhưng tôi không được phép dừng lại”, Thư tự trấn an trong những ngày khó khăn nhất.
Lo con gái phải đoạn nhũ và ảnh hưởng tâm lý ở tuổi đôi mươi, suy giảm chất lượng sống, gia đình quyết định đưa Thư từ Đà Nẵng vào TP HCM điều trị phẫu thuật kết hợp tái tạo vú và xạ trị.
Tiếp nhận người bệnh, ThS.BS Nguyễn Đỗ Thùy Giang, Trưởng khoa Ngoại Ung bướu, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, không giấu được sự trăn trở. Trước mặt bác sĩ là một cô gái gương mặt còn non nớt, ánh mắt lẫn lộn giữa hoang mang và hy vọng. Sự trẻ trung ấy khiến quyết định điều trị trở nên khó khăn hơn.
“Đây là trường hợp đặc biệt hiếm gặp. Ung thư vú thường xuất hiện sau tuổi 40, Thư là bệnh nhân trẻ tuổi nhất ghi nhận tại bệnh viện. Khi lập kế hoạch điều trị cho em, chúng tôi có tham khảo ý kiến của bệnh nhân và mẹ bé và phải tính cho em một quãng đường rất dài phía trước, từ học tập, công việc lập gia đình đến sinh con sau này”, bác sĩ Giang nói.

Giữa tháng 10, Thư bước vào ca phẫu thuật loại bỏ khối u ác tính, kích thước 5 cm. Trong quá trình mổ, bác sĩ Giang và ê kíp tiến hành sinh thiết lạnh hạch gác cửa nách vùng nách để đánh giá tình trạng hạch nách di căn. Kết quả cho thấy 3 hạch gác cửa không có u ác, ê kíp lựa chọn tái tạo vú ngay trong ca phẫu thuật cắt bỏ ung thư vú.
Bác sĩ lấy một vạt da, mỡ và cơ lưng rộng đưa lên vùng ngực để tạo hình dáng bầu vú mới, giúp bảo tồn hình thể và giảm tổn thương tâm lý cho người bệnh trẻ tuổi.
Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ cho thấy hạch nách không di căn, mô bệnh học thuộc nhóm có tiên lượng tương đối thuận lợi. Giai đoạn bệnh được xác định là T2.
“Bệnh nhân không cần hóa trị, nhưng vẫn được chỉ định xạ trị bổ trợ do bướu to, tiềm ẩn nguy cơ tái phát tại chỗ tuy rằng bờ diện cắt an toàn”, BS.CKII Bùi Lê Phước Thu Thảo, Phó khoa Xạ trị, Trung tâm Ung bướu, nhận định.
Theo bác sĩ Thảo, thách thức lớn nhất trong điều trị cho Thư là làm sao tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả nhưng vẫn bảo vệ tim tối đa, hạn chế biến chứng tim mạch nguy hiểm có thể xuất hiện sau 10-20 năm, như bệnh mạch vành, suy tim.
Giải pháp được lựa chọn là kỹ thuật xạ trị theo nhịp thở sâu có kiểm soát (DIBH). Trong mỗi buổi xạ, Thư được hướng dẫn hít sâu và nín thở khoảng 20 giây, khi ấy lồng ngực nâng lên, tim bị ép nhẹ lại và đẩy ra phía sau, vì thế giúp đưa đáng kể thể tích tim ra khỏi trường chiếu xạ và giảm liều tia chiếu vào cơ quan này. Kỹ thuật xạ trị hít sâu nín thở thành công khi bệnh nhân hít vào đủ sâu, nín thở và giữ lồng ngực ở vị trí ổn định. Điều đặc biệt là nhịp thở của bệnh nhân sẽ được hệ thống xạ trị ghi nhận, theo dõi liên tục theo thời gian thực, và máy xạ được cài đặt để tự động phát tia khi nhịp thở ổn định và nằm trong ngưỡng đã được lập trình.
Trong lúc mô phỏng trước điều trị, êkíp xạ trị đã dựng hình chi tiết các cấu trúc tim, cùng với tiêm cản quang tĩnh mạch, giúp xác định vị trí của động mạch liên thất trước (hay còn gọi là động mạch vành xuống trước trái LAD), đây là một nhánh quan trọng của động mạch vành trái, có vai trò chính trong việc cung cấp máu giàu oxy đến phần lớn cơ tim. Xác định rõ nhánh động mạch này giúp tính toán chính xác liều xạ và thiết lập kế hoạch xạ trị tối ưu nhằm giảm liều xạ lên nhánh mạch vành này. Nhờ áp dụng kỹ thuật hiện đại, liều xạ vào tim của Thư chỉ hơn 4 Gy, thấp hơn nhiều so với ngưỡng an toàn là dưới 10 Gy.
“Đây là yếu tố mang tính quyết định với bệnh nhân trẻ. Độc tính ảnh hưởng tim thường xuất hiện muộn, giảm liều xạ ngay từ đầu giúp tránh được nhiều nguy cơ về sau”, bác sĩ Thảo cho biết.

Sau 5 tuần phẫu thuật, Thư bước vào buổi xạ đầu tiên, thực hiện tổng cộng 16 buổi xạ kéo dài trong vòng 3 tuần. Quá trình điều trị diễn ra thuận lợi, bệnh nhân hầu như không gặp tác dụng phụ đáng kể, da vùng xạ ổn định, thể trạng tốt, tinh thần tích cực.
Điều khiến ê-kíp điều trị đặc biệt chú ý là Thư đang trong giai đoạn hoàn thiện luận văn tốt nghiệp. Lịch xạ trị được sắp xếp linh hoạt để không trùng với các mốc học tập quan trọng.
Những ngày sức khỏe cho phép, Thư vẫn mở laptop, chỉnh sửa từng trang luận văn trong phòng trọ nhỏ, sau giờ xạ. “Tôi phải chiến thắng ung thư và tốt nghiệp đúng hạn, không thể để bệnh tật cướp đi những điều bản thân đã cố gắng suốt nhiều năm”, Thư nói.
Xạ trị chỉ tác động lên vùng có ung thư nên không gây rụng tóc toàn thân và ít biến chứng như hóa trị. Suốt quá trình này Thư hầu như không gặp tác dụng phụ, da vùng xạ ổn định, thể trạng tốt, tinh thần lạc quan. Bạn bè, họ hàng đều không biết chuyện Thư đang phải từng ngày chiến đấu với căn bệnh ác tính.
Cuối tháng 12, Thư kết thúc xạ trị để quay về Đà Nẵng chuẩn bị bước vào giai đoạn thi cử. Bác sĩ Thảo cho biết, hành trình tiếp theo của cô là liệu pháp nội tiết kéo dài ít nhất 5 năm. Do phác đồ chỉ xạ vào vùng ngực, không chiếu vào cơ quan sinh sản, buồng trứng vẫn có khả năng hồi phục, người bệnh hoàn toàn có thể kết hôn, sinh con trong tương lai nếu được theo dõi sát.
“Tái khám định kỳ là bắt buộc, không chỉ để theo dõi bên vú đã điều trị mà cả bên vú còn lại, nhằm phát hiện sớm nếu có tổn thương mới”, bác sĩ Giang nhấn mạnh.
Theo bác sĩ Giang, khác với phương Tây, ung thư vú tại châu Á thường xuất hiện ở độ tuổi trẻ hơn do mô vú dày, ảnh hưởng nội tiết sớm, lối sống đô thị hóa nhanh và thói quen ít tầm soát ở người trẻ. Bên cạnh đó, ung thư vú khởi phát sớm có mối liên quan chặt chẽ hơn với yếu tố di truyền. Một số bệnh nhân rất trẻ có thể mang đột biến gen liên quan ung thư vú dù không có tiền sử gia đình rõ ràng, nhưng ung thư vú liên quan di truyền chỉ chiếm 5-10%. Bệnh nhân này được xét nghiệm di truyền cho thấy không có mang bất kỳ gen gây bệnh nào trong nhóm 10 gen có liên quan ung thư vú di truyền được khảo sát.
“Phụ nữ, kể cả người trẻ ở tuổi đôi mươi, cần chú ý đến những thay đổi bất thường của cơ thể, đặc biệt là vùng vú, và đi khám sớm khi có dấu hiệu nghi ngờ”, bác sĩ Giang khuyến cáo.
Với y học hiện đại, điều trị ung thư vú ngày nay kết quả rất tốt và luôn luôn được bác sĩ lập kế hoạch chi tiết trên từng cá thể bệnh nhân, cân bằng giữa an toàn về mặt ung thư và đảm bảo thẩm mỹ, đạt chất lượng sống tốt nhất để người bệnh sớm quay lại công việc hay những dự định cá nhân tương lai về sau, ngay cả khi mắc bệnh từ khi rất trẻ cũng có thể vượt qua bệnh tật và tiếp tục học tập, làm việc, hướng tới cuộc sống trọn vẹn”, bác sĩ Giang nhắn nhủ.
*Tên nhân vật đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH