Tạo cầu nối động – tĩnh mạch giúp bệnh nhân chạy thận nhân tạo giảm nhiều lần nguy cơ tử vong, biến chứng và nâng cao chất lượng sống lâu dài.

TTND.PGS.TS.BS.CKII Nguyễn Hữu Ước, Chủ tịch Hội Bệnh mạch máu Việt Nam, Trưởng khoa Phẫu thuật Tim, Mạch máu và Lồng ngực, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết thông tin trên tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ IV hôm 6-7/6. Sự kiện do Hội Bệnh mạch máu tổ chức tại Huế với sự tham gia của hàng trăm chuyên gia trong và ngoài nước.
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam, chủ đề về đường vào mạch máu cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo được đưa ra báo cáo và thảo luận chuyên sâu ở quy mô quốc tế.

Người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối mất khả năng tự lọc bỏ chất độc ra khỏi cơ thể, vì vậy bắt buộc phải điều trị bằng một trong ba phương pháp thay thế thận gồm: ghép thận, thẩm phân phúc mạc hoặc chạy thận nhân tạo (lọc máu). Trong đó, chạy thận nhân tạo là phương pháp được lựa chọn phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay nhờ tính dễ tiếp cận và điều kiện môi trường phù hợp.
Để duy trì chạy thận lâu dài, bệnh nhân cần có “đường vào mạch máu” (vascular access) ổn định, lưu lượng lớn, giúp kết nối cơ thể với máy lọc máu nhằm loại bỏ độc chất trong máu và đưa máu sạch trở lại. Nếu vị trí này bị tắc nghẽn, nhiễm trùng hoặc không đảm bảo lưu lượng, quá trình lọc máu không thể thực hiện, độc chất ứ đọng trong cơ thể có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Hiện có ba nhóm đường vào mạch máu chính phục vụ cho lọc máu ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối, gồm: catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC), cầu nối động – tĩnh mạch tự thân (AVF) và cầu nối động – tĩnh mạch bằng ống ghép nhân tạo (AVG).
Catheter có thể đặt ở tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cảnh (ở vùng cổ ngực) và tĩnh mạch đùi (ở vùng bệnh). Catheter loại thường chỉ dùng trong thời gian ngắn khoảng vài tuần, còn catheter thể vùi có thể sử dụng lâu dài hơn nhưng cũng chỉ từ 3 đến 9 tháng.
Báo cáo tại Hội nghị, ThS.BS Đỗ Trung Dũng, khoa Phẫu thuật Tim, Mạch máu và Lồng ngực, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết catheter vẫn cần thiết cho các trường hợp lọc máu cấp cứu hoặc khi chưa chuẩn bị kịp đường vào dài hạn. Tuy nhiên, việc sử dụng lâu dài catheter, đặc biệt là catheter loại thường, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, nặng nề hơn là nhiễm trùng huyết, buộc người bệnh phải nhập viện và điều trị kháng sinh kéo dài.
Tỷ lệ nhiễm trùng ước tính trên mỗi bệnh nhân mỗi năm khi dùng AVF chỉ 0,5-1,5%, thấp hơn nhiều so với AVG (10-15%) và catheter loại thường (lên đến 200%). Mặc dù catheter thể vùi với thiết kế cuff giảm thiểu đáng kể nguy cơ nhiễm trùng so với catheter thường, nhưng nguy cơ vẫn cao hơn so với AVF và AVG. Nguy cơ tử vong do nhiễm trùng huyết ở bệnh nhân dùng catheter thể vùi cao hơn khoảng 7 lần so với AVF hoặc AVG.
AVF được xem là lựa chọn tối ưu nhất hiện nay với các ưu điểm tuổi thọ cao, sử dụng được nhiều năm, cung cấp lưu lượng máu tốt và ổn định, hạn chế tối đa biến chứng như huyết khối, tắc mạch, chi phí duy trì cũng thấp hơn về lâu dài. Trong trường hợp mạch máu tự thân không đủ điều kiện, các bác sĩ có thể tạo AVG, phương pháp này có thể sử dụng sau khoảng 2-3 tuần, nhưng tuổi thọ ngắn hơn và nhiều nguy cơ hơn AVF.
Một trường hợp điển hình là ông Tùng (62 tuổi) mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối, tăng huyết áp và đái tháo đường type 2, đã bắt đầu lọc máu bằng catheter tĩnh mạch trung tâm trong vòng 3 tháng. Ông Tùng cảm thấy bất tiện với catheter ở ngực, đặc biệt là hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày như tắm rửa, nguy cơ nhiễm trùng cao.
Sau khi đánh giá mạch máu người bệnh có đủ điều kiện để tạo AVF ở cánh tay, bác sĩ Dũng quyết định phẫu thuật tạo đường vào thay thế catheter. Bác sĩ tạo một “đường dẫn” trực tiếp từ hệ thống động mạch đến tĩnh mạch, đủ lớn, đủ chắc và có lưu lượng máu cao phục vụ cho việc đưa máu ra lọc và trả lại cơ thể đều đặn nhiều lần mỗi tuần.
Sau phẫu thuật khoảng 1 tháng, ông Tùng bắt đầu sử dụng AVF cho lọc máu, đạt lưu lượng yêu cầu. Trong suốt 2 năm sử dụng sau đó, người bệnh không gặp biến chứng nghiêm trọng nào khác.

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, lựa chọn loại đường vào mạch máu có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống còn của bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Được đăng trên tạp chí y khoa quốc tế Medicina vào đầu năm 2025, nghiên cứu kéo dài 7 năm chỉ ra rằng, nhóm bệnh nhân AVF có tỷ lệ sống sót cao nhất, đạt 65,5%. Trong khi đó, tỷ lệ này giảm xuống còn 26,4% với catheter thể vùi và chỉ còn 11% ở nhóm catheter thường. So với AVF, nguy cơ tử vong ở bệnh nhân sử dụng catheter thể vùi tăng 2,8 lần, và tăng gấp 5 lần nếu dùng catheter thường.
“Tạo AVF sớm vẫn là chiến lược được các hướng dẫn quốc tế ưu tiên cho bệnh nhân lọc máu lâu dài”, bác sĩ Dũng nhấn mạnh.
Việc lựa chọn vị trí và loại đường vào mạch máu cần được cá nhân hóa, dựa trên kế hoạch điều trị dài hạn và tình trạng sức khỏe của từng bệnh nhân. Việc tạo AVF sớm, ngay cả khi bệnh nhân đã bắt đầu lọc máu bằng catheter, có thể giúp tránh được các biến chứng liên quan đến catheter tĩnh mạch và duy trì hiệu quả lọc máu lâu dài.
Tạo AVF ở vị trí xa như cổ tay thường được ưu tiên, bởi khi xảy ra tắc nghẽn, vẫn còn khả năng tạo đường vào mới ở vị trí gần hơn ở cẳng tay hoặc cánh tay. Ngược lại, nếu tạo AVF ở vị trí gần tim ngay từ đầu, khi tắc nghẽn xảy ra, việc tái tạo đường vào sẽ gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, kỹ thuật viên và điều dưỡng viên thực hiện chọc kim vào đường vào mạch máu cần được đào tạo bài bản. Việc chọc kim không đúng chuẩn kỹ thuật có thể dẫn đến các biến chứng như phình mạch, nhiễm trùng hoặc tắc nghẽn, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và chất lượng sống của người bệnh.
Bệnh suy thận mạn đang ảnh hưởng đến hơn 10% dân số toàn cầu, tương đương hơn 800 triệu người. Tỷ lệ bệnh thận mạn ở Việt Nam đang ở mức cao nhất châu Á – Thái Bình Dương, nhiều người phải chật vật tìm chỗ chạy thận. Các thống kê năm 2024 cho thấy Việt Nam có hơn 8,7 triệu người mắc bệnh thận mạn, chiếm 12,8% số người trưởng thành. Số ca mắc mới mỗi năm lên đến 8.000 và số bệnh nhân cần điều trị lọc máu do tiến triển của bệnh thận mạn, lên đến khoảng 800.000 người.
Theo PGS Ước, hiện nay tại Việt Nam, hơn 80% bệnh nhân bắt đầu chạy thận mà không có đường vào mạch máu lâu dài, phải sử dụng catheter tạm thời. Vì vậy việc đầu tư đồng bộ vào lĩnh vực đường vào mạch máu, từ khâu lập kế hoạch, phẫu thuật đến chăm sóc và duy trì, không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn cải thiện đáng kể chất lượng sống cho người bệnh suy thận mạn. Đây là một lĩnh vực cần được chú trọng và phát triển hơn nữa trong hệ thống y tế hiện nay.
Tỷ lệ bệnh nhân suy thận và chạy thận nhân tạo ngày càng gia tăng, kèm theo nhiều bệnh lý phức tạp, việc tiếp cận mạch máu an toàn và hiệu quả là thách thức lớn trong bối cảnh toàn cầu hiện nay. Để nâng cao chất lượng điều trị, chúng ta cần hướng đến một mô hình chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm, ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng chỉ số đánh giá chức năng đường vào mạch máu chuẩn hóa, khả thi trong thực hành lâm sàng. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác đa ngành và nghiên cứu lâm sàng quốc tế để hiện thực hóa mục tiêu này.
Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ IV của Hội Bệnh mạch máu Việt Nam diễn ra ngày 6-7/6 tại Huế, quy tụ hơn 100 báo cáo xoay quanh 13 chủ đề. Sự kiện là dịp các chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm, cập nhật kỹ thuật mới, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm biến chứng cho người bệnh.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH