Nhờ kỹ thuật OCT giúp xác định bản chất mảng xơ vữa, ông Phương, 59 tuổi, được đặt stent mở rộng mạch vành để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim.

Ông Phương có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu đang điều trị bằng thuốc. Một tháng nay thỉnh thoảng ông đau nặng ngực, mức độ tăng lên khi gắng sức nên đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM thăm khám.
ThS.BS.CKII Hồ Anh Tuấn, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, cho biết kết quả chụp CT mạch vành xác định hệ mạch vành của bệnh nhân hẹp vừa đến nặng. Trong đó, đoạn giữa nhánh động mạch vành phải hẹp 50-60%, đoạn giữa liên thất trước hẹp 60-70%, động mạch mũ hẹp 70-80% lỗ xuất phát. Nguyên nhân gây hẹp ở cả ba nhánh là do mảng xơ vữa, vôi hóa.
Theo bác sĩ Tuấn, mạch vành hẹp nhẹ khi mức hẹp dưới 50%, từ 50-70% là hẹp vừa và trên 70% là hẹp mạch vành nặng. Khi mạch vành hẹp vừa, nguy cơ thiếu máu cơ tim đã hiện diện, biểu hiện rõ nhất khi gắng sức. Đây là giai đoạn cần đánh giá chức năng tim và mức độ ảnh hưởng đến sinh lý tuần hoàn.
GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, mạch máu tim hẹp dưới 50% chưa có chỉ định can thiệp. Stent thường được sử dụng khi hẹp trên 70% hoặc 50-70% ở các vị trí nguy hiểm như thân chung hoặc đoạn gần động mạch vành trái, đặc biệt nếu kèm triệu chứng như đau thắt ngực khi gắng sức. Trường hợp ông Phương, tình trạng hẹp chưa quá nghiêm trọng, có thể điều trị nội khoa. Tuy nhiên, toàn bộ ba nhánh mạch vành đều bị xơ vữa, vôi hóa nên cần đánh giá bản chất mảng xơ vữa xem nguy cơ nhồi máu cơ tim có cao không, từ đó mới quyết định cần can thiệp hay chưa.
Bác sĩ sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp kết quang nội mạch (OCT). Với độ phân giải siêu cao, gấp 10 lần siêu âm trong lòng mạch (IVUS), OCT cho phép “nhìn thấu” vào cấu trúc vi thể bên trong thành mạch. Kỹ thuật này đã phát hiện chính xác bản chất mảng xơ vữa mà chụp mạch vành đã bỏ lỡ: dạng hỗn hợp lan tỏa, dễ nứt vỡ. “Nếu không nhanh chóng đặt stent các nhánh mạch vành bị hẹp, mảng xơ vữa có thể nứt vỡ bất cứ lúc nào gây nhồi máu cơ tim cấp, đe dọa tính mạng bệnh nhân”, Giáo sư Nhân nói.

Bác sĩ xác định nhánh liên thất trước có nguy cơ tắc cao do mảng xơ vữa dễ nứt vỡ, quyết định đặt stent cho nhánh này. Dựa trên hình ảnh OCT, êkíp thấy mảng xơ vữa có nắp xơ mỏng (thin cap fibro-atheroma) dễ vỡ, đo chính xác kích thước mạch và chiều dài tổn thương để chọn stent phù hợp, sau đó đánh giá xem stent có nở đều và áp sát thành mạch, hai đầu stent có bị bóc tách không (để tránh nguy cơ bị tắc cấp sau đặt stent).
Sau can thiệp ông Phương tỉnh táo, hết đau ngực, xuất viện sau 3 ngày khi sức khỏe ổn định. Nguy cơ nhồi máu cơ tim được giảm thiểu tối đa.
Bác sĩ Tuấn thông tin, OCT mạch vành hiện được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong đánh giá hình thái tổn thương động mạch vành, vượt trội so với chụp mạch vành thông thường (chỉ thấy hình bóng lòng mạch). Kỹ thuật này dùng ánh sáng hồng ngoại để tái tạo hình ảnh chi tiết bên trong lòng động mạch vành với độ phân giải cực cao (10-20 micron, cao hơn nhiều so với siêu âm nội mạch – IVUS). Nhờ OCT, bác sĩ có thể quan sát rõ ràng độ dày, thành phần và cấu trúc mảng xơ vữa; vị trí và mức độ nứt vỡ mảng xơ vữa (nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim cấp); đánh giá chính xác kích thước lòng mạch, giúp lựa chọn stent phù hợp; đồng thời kiểm tra ngay sau đặt stent để xem stent có áp sát thành mạch, có còn khoảng hở hay bị bóp méo không, tăng độ chính xác, an toàn và hiệu quả điều trị.
Để giảm nguy cơ tái phát bệnh mạch vành hoặc tái hẹp sau đặt stent, người bệnh cần tuân thủ điều trị nội khoa, đặc biệt là liệu pháp kháng tiểu cầu kép và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ: duy trì lối sống lành mạnh (ngưng thuốc lá, hạn chế rượu bia, tăng cường vận động, tránh căng thẳng), tuân thủ chế độ ăn tốt cho tim mạch, điều trị ổn định các bệnh lý nền và tái khám đúng lịch hẹn.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH