Kích thước tuyến giáp nói lên rất nhiều về sức khỏe của cơ quan này. Mọi thay đổi về kích thước đều có thể là dấu hiệu của bệnh tuyến giáp. Vậy kích thước tuyến giáp bình thường là bao nhiêu? Có các chỉ số nào để đánh giá tình trạng tuyến giáp? Thạc sĩ bác sĩ CKI Hà Thị Ngọc Bích, Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM sẽ giải đáp vấn về này qua bài viết sau.

Trước khi tìm hiểu về kích thước tuyến giáp bình thường là bao nhiêu thì hãy tìm hiểu tổng quan về tuyến giáp. Hệ thống nội tiết là một mạng lưới phức tạp của cơ thể, trong đó tuyến giáp giữ vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, chuyển hóa và hoạt động của nhiều cơ quan.
Tuyến giáp nằm phía trước cổ, ở trước các vòng sụn khí quản trên và hai bên thanh quản, ngang mức các đốt sống C5 – D1.
Tuyến giáp có hình dạng giống cánh bướm, bao gồm hai thùy giáp nằm hai bên cổ nối với nhau bởi eo tuyến giáp. Trên hai thùy giáp là lớp mô mềm với các nang nhỏ kích thước từ 0,02mm – 0,3mm, có nhiệm vụ sản sinh hormone tuyến giáp. (1)
Tuyến giáp tiết ra các hormone như Thyroxine (T4), Triiodothyronine (T3), Triiodothyronine đảo ngược (RT3) và Calcitonin, ảnh hưởng đến hoạt động của hầu hết cơ quan trong cơ thể như:
Nhiều người vẫn thắc mắc kích thước tuyến giáp bình thường là bao nhiêu? Trong quá trình khám lâm sàng tuyến giáp, bác sĩ sẽ kiểm tra kích thước cũng như cảm giác về mật độ tuyến giáp, từ đó phát hiện bất thường nếu có. Ngoài ra, có thể sử dụng siêu âm để thăm dò kích thước, cấu trúc của tuyến giáp một cách chính xác và chi tiết hơn. (2)
Vậy kích thước tuyến giáp bình thường là bao nhiêu? Trên hình ảnh siêu âm, kích thước bình thường của tuyến giáp được thể hiện:
Lưu ý: các thông số kích thước tuyến giáp bình thường trên đây có thể thay đổi dựa vào tài liệu tham chiếu, theo tuổi tác, giới tính và chủng tộc. Kích thước cũng như tình trạng tuyến giáp cũng có thể thay đổi theo thời gian và các bệnh lý về tuyến giáp (như bướu cổ, bệnh Basedow…).

Bên cạnh kết quả kiểm tra hình thái tuyến giáp thì các chỉ số hormone giáp cũng đóng vai trò quan trọng khi đánh giá tình trạng tuyến giáp. Có 3 chỉ số quan trọng là: nồng độ Thyroxine tự do (FT4), Triiodothyronine tự do (FT3) và chỉ số TSH. Các chỉ số này tăng hoặc giảm so với mức bình thường đều cảnh báo nguy cơ bệnh tuyến giáp. Tuy nhiên, có những trường hợp nồng độ hormone thay đổi do tác dụng phụ của một số loại thuốc. Do đó, người bệnh nên thông báo với bác sĩ về các loại thuốc mình đang sử dụng.
TSH là hormone do tuyến yên tiết ra nhằm kiểm soát hoạt động của tuyến giáp. Đây là chỉ số quan trọng để đánh giá chức năng tuyến giáp. Nồng độ TSH bình thường khoảng 0,4 – 5 mIU/L.
Khi nồng độ hormone tuyến giáp giảm, tuyến yên sẽ tăng cường sản xuất TSH nhằm kích thích tuyến giáp sản sinh nhiều hormone hơn. Ngược lại, nếu nồng độ hormone tuyến giáp trong máu tăng cao thì tuyến yên sẽ tiết ra ít TSH để kìm hãm quá trình sản xuất hormone của tuyến giáp.
FT4 là hormone chính của tuyến giáp. Chỉ số FT4 bình thường ở mức 12 – 22 pmol/l (0.93-1.7 ng/dL).
FT3 là hormone có vai trò rất quan trọng quá trình trao đổi chất của cơ thể. Chỉ số FT3 bình thường đạt mức 1.3 – 3.1 nmol/l hoặc 0.8-2.0 ng/ml.
Bên cạnh đánh giá các chỉ số hormone giáp, bác sĩ còn căn cứ vào bệnh sử của người thân trong gia đình để chỉ định các xét nghiệm phù hợp, nhằm sàng lọc nguy cơ mắc các bệnh tuyến giáp.
Sự xuất hiện kháng thể tuyến giáp là dấu hiệu của tình trạng tự miễn dịch, ví dụ như bệnh Basedow (kháng thể TRAb) hoặc bệnh viêm giáp mạn Hashimoto (kháng thể Anti TPO). Đây là tình trạng hệ thống miễn dịch tạo ra các kháng thể tấn công tế bào khỏe mạnh trong cơ thể.
Tuyến giáp tạo ra một số loại protein để sản xuất hormone giáp, bao gồm thyroglobulin. Khi xảy ra tình trạng tự miễn dịch, thyroglobulin sẽ bị phá vỡ và xuất hiện kháng thể anti thyroglobulin (Anti Tg). Do đó, xét nghiệm kháng thể tuyến giáp anti thyroglobulin cũng có thể giúp xác định có tình trạng tự miễn dịch của cơ thể với tuyến giáp hay không.
Những người có tiền sử gia đình từng có người thân bị các bệnh tuyến giáp tự miễn hoặc ung thư tuyến giáp nên đến các bệnh viện chuyên khoa để làm xét nghiệm kiểm tra.
Siêu âm tuyến giáp là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn được sử dụng phổ biến để đánh giá tình trạng tuyến giáp. Hình ảnh qua siêu âm thể hiện được cấu trúc, kích thước, mật độ tuyến giáp, tình trạng tưới máu, phát hiện các u, nhân tuyến giáp lành tính hoặc bất thường… và đánh giá hạch di căn ở vùng cổ của ung thư tuyến giáp.
Bệnh tuyến giáp thường liên quan đến sự rối loạn chức năng hoặc do bất thường cấu trúc của tuyến này, phổ biến nhất là suy giáp và cường giáp, tiếp đó là các loại ung thư tuyến giáp hoặc nhân giáp lành tính:
Là tình trạng chức năng tuyến giáp suy giảm, gây ảnh hưởng đến nồng độ hormone giáp trong máu. Có nhiều nguyên nhân gây suy giáp như: người bệnh đã cắt bỏ một phần tuyến giáp, viêm tuyến giáp, tiền căn xạ trị vùng đầu mặt cổ, tuyến giáp teo nhỏ…
Người bệnh suy giáp được chỉ định sử dụng thuốc thay thế hormone giáp (levothyroxine) để bù đắp lượng hormone bị thiếu hụt.
Ngược lại với suy giáp, cường giáp là tình trạng tuyến giáp hoạt động quá mức, khiến cho lượng hormone giáp tiết ra nhiều hơn bình thường. Các triệu chứng thường gặp của bệnh như: sụt cân bất thường, khó ngủ, cảm giác nóng trong người, đổ mồ hôi nhiều, run tay, nhịp tim nhanh, bướu giáp to…
Người bệnh cường giáp có thể được chỉ định sử dụng thuốc kháng giáp (methimazole, carbemazole hoặc propylthiouracil), thuốc chẹn beta (như propranolol, atenolol…) để kiểm soát triệu chứng bệnh. Một số trường hợp cần can thiệp phẫu thuật hoặc sử dụng iod phóng xạ để điều trị.
Bướu giáp là tình trạng tuyến giáp phình to gây ảnh hưởng thẩm mỹ của người bệnh. Có nhiều nguyên nhân gây ra bướu giáp như: cường giáp, ung thư giáp, nhân giáp viêm tuyến giáp, thiếu iod… Một số trường hợp bác sĩ sẽ có thể chỉ định chọc hút kim nhỏ (FNA) để xác định tính chất nhân giáp. Bướu giáp to lên sẽ chèn ép các cơ quan xung quanh, gây căng tức vùng cổ, khó nuốt, khó thở, mệt mỏi, đi kèm các triệu chứng do nguyên nhân hình thành bướu.
Điều trị bướu giáp phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Nếu bướu quá lớn, cản trở sinh hoạt và ảnh hưởng sức khỏe, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật loại bỏ hoặc sử dụng iod phóng xạ.

Tuyến giáp sử dụng iod để chuyển hóa thành hormone giáp. Thiếu iod là nguyên nhân chính gây suy giáp và bướu cổ trên toàn thế giới. Tuy nhiên, chế độ ăn quá nhiều iod có thể gây bệnh cường giáp. Do đó, việc bổ sung iod cần tuân theo chỉ định của bác sĩ.
Để giảm nguy cơ mắc các bệnh tuyến giáp, cần xây dựng chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt lành mạnh, thường xuyên vận động, hạn chế căng thẳng, tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong môi trường làm việc, môi trường sống. Bên cạnh đó nên lưu ý hạn chế các loại thực phẩm sau:
Nếu có bất kỳ triệu chứng bất thường về sức khỏe hoặc thay đổi kích thước tuyến giáp bình thường, người bệnh nên nhanh chóng khám, xét nghiệm để được chẩn đoán và điều trị sớm.
Có và nên khám càng sớm càng tốt ngay khi nhận thấy kích thước tuyến giáp bình thường trở nên bất thường. Tuyến giáp gia tăng kích thước có thể là dấu hiệu của bệnh cường giáp, bướu giáp lan tỏa hoặc ung thư giáp.
Bệnh tuyến giáp diễn biến âm thầm, do đó những người có tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp cần đi kiểm tra chức năng tuyến giáp thường xuyên, không đợi đến khi phát hiện bất thường sức khỏe.

Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM là cơ sở chuyên khoa với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm khám, chẩn đoán, tư vấn và điều trị các bệnh lý tuyến giáp, rối loạn nội tiết, đái tháo đường…, kết hợp với hệ thống máy móc hiện đại, được nhập khẩu chính hãng từ các nước Âu Mỹ giúp người bệnh được chẩn đoán chính xác và an tâm điều trị, phục hồi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tuyến giáp là một phần quan trọng trong hệ thống nội tiết của cơ thể. Hiểu rõ về vị trí, cấu tạo, kích thước tuyến giáp bình thường là bao nhiêu cũng như chức năng và các bệnh lý thường gặp ở tuyến này sẽ giúp bạn đọc có sự quan tâm đúng mức, xây dựng được chế độ chăm sóc sức khỏe toàn diện cho bản thân và gia đình.