Azithromycin là một kháng sinh được sử dụng trong điều trị bệnh một số bệnh nhiễm khuẩn viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm phổi, nhiễm trùng da… Kháng sinh này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 và nằm trong danh sách các loại thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới. Sản phẩm được sản xuất và lưu hành dưới dạng thuốc gốc và nhiều tên thương mại trên toàn thế giới.

Azithromycin là một kháng sinh nhóm macrolid, được dùng để điều trị một số bệnh nhiễm trùng do gây ra bởi vi khuẩn trên hệ hô hấp, sinh dục, tiết niệu, da và mô mềm… Thuốc hoạt động bằng cách thấm vào tế bào vi khuẩn và ngăn chặn sự tổng hợp protein cần thiết của các tế bào vi khuẩn. Thuốc kháng sinh này không có tác dụng đối với cảm lạnh, cảm cúm thông thường hoặc các bệnh nhiễm trùng do vi-rút khác. (1)
Thuốc được chỉ định bởi bác sĩ để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn gây ra bởi một số loại vi khuẩn còn nhạy cảm như:
Bác sĩ sẽ cân nhắc sử dụng kháng sinh này phù hợp với một số các bệnh nhiễm khuẩn nêu trên dựa vào việc đánh giá cụ thể trên từng người bệnh và loại vi khuẩn gây bệnh có thể gặp phải. Azithromycin cũng có thể được sử dụng cho các tình trạng bệnh lý khác theo chỉ định của bác sĩ.

Azithromycin ngăn chặn vi khuẩn phát triển bằng cách can thiệp vào quá trình tổng hợp protein của chúng. Nó liên kết với tiểu đơn vị 50s của ribosom vi khuẩn và ngăn chặn sự chuyển vị của các peptide. Do đó ức chế quá trình dịch mã mRNA, quá trình tổng hợp acit nucleic không bị ảnh hưởng. Thuốc này đạt nồng độ cao trong các tế bào thực bào, bao gồm bạch cầu đa nhân, bạch cầu đơn nhân, đại thực bào và nguyên bào sợi. Nhờ khả năng thấm vào các tế bào thực bào, thuốc có hoạt tính trên các vi sinh vật ký sinh nội bào.
Khi uống 500mg hỗn dịch Azithromycin ở người sức khỏe bình thường, uống lúc đói nồng độ đỉnh có trong huyết tương khoảng 0,5 microgam/ml. Nồng độ đỉnh đạt được khoảng 2 giờ sau khi uống, và mức độ hấp thu (AUC) cũng tương ứng.
Azithromycin được sản xuất và lưu hành với nhiều có sẵn dưới dạng Zithromax, Zithromax Z-PAK và Azithromycin dạng thuốc gốc được cung cấp theo các dạng bào chế sau đây dùng qua đường uống:
![]() |
|
| Tên thương mại (Common Brand Name) | Zithromax; Zmax; Z-Pak |
| Tên gọi chung (Common Generic Name) | azithromycin; azithromycin dihydrate; azithromycin monohydrate |
| Nhóm thuốc (Drug Classes) | Kháng sinh nhóm macrolide |
| Danh mục (Availability) | Thuốc bán theo đơn |
| Dạng bào chế | Viên nén, hỗn dịch uống |
Azithromycin là một kháng sinh macrolid có tính chất kìm khuẩn nhưng nếu ở nồng độ cao có thể phát huy tính diệt khuẩn đối với một số chủng chọn lọc. (2)
Azithromycin ngăn cản sự tổng hợp protein ở các vi khuẩn nhạy cảm, ngăn cản chúng sinh sôi phát triển bằng cách gắn vào các cấu trúc dưới phân tử (subunit) của ribosom 50S.
Hoạt tính kháng khuẩn của thuốc này bị giảm khi ở nồng độ pH thấp. Thuốc sau khi vào trong các thực bào sẽ xuất hiện các hoạt tính chống lại vi khuẩn gây bệnh nội bào (S.aureus, Legionella pneumophila, Chlamydia trachomatis, Salmonella typhi).

Azithromycin là một loại kháng sinh bền với axit, vì vậy có thể uống mà không cần bảo vệ khỏi axit dạ dày. Thuốc được hấp thu dễ dàng, nhưng hấp thu nhiều hơn khi uống thuốc lúc đói. Khi uống thuốc này với liều đơn từ 500mg đến 1,2 g (viên nén, nang, hỗn dịch) sinh khả dụng khoảng từ 34 – 42%.
Sau khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch, thuốc tập trung chủ yếu ở phần mô và dịch cơ thể. Ngoài ra, thuốc còn có mặt ở các bộ phận như: bạch cầu đơn nhân, đa nhân, nguyên sợi bào và đại thực bào. Và chỉ có một lượng nhỏ thuốc đi vào trong dịch não tủy (< 0,01 microgam/ml). Azithromycin cũng qua nhau thai và phân bố vào máu dây nhau và nước ối. Kháng sinh này cũng phân bố một lượng vào sữa.
Azithromycin chuyển hóa chủ yếu ở gan.
Azithromycin đào thải chủ yếu qua mật và nước tiểu. Tuy nhiên, đào thải qua nước tiểu chỉ chiếm 6%.
Thời gian bán thải Azithromycin là khoảng từ 11 – 68 giờ. Sau một liều 500mg, thời gian bán thải cuối cùng rõ ràng của thuốc này là 68 giờ.

Viên nén có hàm lượng 250mg hoặc 500mg. Viên nang có hàm lượng 250mg. Dạng lỏng có hàm lượng 200mg trong 5ml.
Việc dùng quá 1 liều có thể làm tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng phụ tạm thời như cơ thể mệt mỏi hoặc bị tiêu chảy. Tuy nhiên, việc uống quá liều thường xuyên sẽ gây các tác dụng phụ nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe. Lúc này, người bệnh cần chủ động đến bệnh viện để được thăm khám, xử lý kịp thời.
Nếu bạn quên một liều, hãy uống liều đã quên ngay khi bạn nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần đến giờ uống liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều để bù cho liều đã quên.
Sau khi dùng thuốc này, người bệnh có thể gặp các tác dụng phụ sau:
Tác dụng phụ thường gặp: Tiêu chảy, buồn nôn, đau dạ dày, nôn mửa, đôi khi cảm thấy đau đầu. Đây là những tác dụng phụ thường gặp ở người lớn và trẻ em.
Azithromycin cũng gây các tác dụng phụ khác nhưng thường ít gặp như: Chóng mặt, đau đầu nhiều, ăn không ngon miệng, đầy hơi, khó tiêu. Một số người bị phát ban, cảm thấy ngứa ngáy vùng kín.
Một số tác dụng phụ hiếm gặp sau khi sử dụng thuốc Azithromycin: Phù mạch, phản ứng phản vệ, giảm bạch cầu.
Phản ứng dị ứng nghiêm trọng: nổi mề đay, phát ban, phồng rộp, sốt, sưng môi hoặc lưỡi, khó thở. Các vấn đề về gan hoặc suy gan trở nên trầm trọng hơn: sưng dạ dày, vàng da hoặc lòng trắng mắt, lú lẫn, nước tiểu sẫm màu hoặc nâu. Nhịp tim bất thường (kéo dài khoảng QT): đánh trống ngực, khó thở, đau ngực, cảm thấy ngất xỉu hoặc choáng váng…
Các tác dụng phụ thường gặp sau khi sử dụng thuốc này thường không quá nghiêm trọng và có thể tự khỏi. Tuy nhiên nếu gặp các dụng phụ nghiêm trọng như đã liệt kê, người bệnh cần liên hệ bác sĩ hoặc chủ động đến bệnh viện để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Azithromycin có thể tương tác với các loại thuốc khác, đồ uống:
Một số loại thuốc không không nên kết hợp cùng thuốc này vì có thể gây tương tác thuốc.
Azithromycin có thể ảnh hưởng đến nhịp tim của bạn, vì vậy tốt nhất không nên dùng thuốc này với các loại thuốc khác có tác dụng phụ tương tự. Hãy cho bác sĩ biết nếu bạn đang dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến nhịp tim, bao gồm:
Nên uống Azithromycin khi bụng đói. Uống ít nhất 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau bữa ăn để tránh làm giảm hiệu quả của thuốc. Sở dĩ như vậy là do thức ăn trong dạ dày có thể tác động đến mức độ hấp thu qua đường uống; tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào dạng thuốc được dùng.
Azithromycin có thể bị giảm tác dụng nếu uống cùng rượu bia, hoặc các thức uống có cồn. Do đó, để tránh tương tác thuốc với đồ uống, mọi người nên lưu ý nên uống thuốc với nước lọc.
Để tránh tương tác thuốc xảy ra, trước khi dùng thuốc Azithromycin người bệnh nên nói với bác sĩ các loại thuốc đang dùng, thực phẩm chức năng, vitamin hoặc các loại thuốc đông y…
Hầu hết viên uống azithromycin nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng, từ 68 F đến 77 F (20 – 25 độ C). Thuốc có thể tiếp xúc với nhiệt độ từ 59F đến 86F (15 – 30 độ C) trong thời gian ngắn hơn, chẳng hạn như khi vận chuyển. Bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, trong hộp kín.
Dung dịch uống nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng hoặc trong tủ lạnh từ 41F đến 86F (5 – 30 độ C) và sử dụng trong vòng 10 ngày. Bạn không nên bảo quả trong ngăn đá đông lạnh.

Azithromycin là có thể dùng trong thời kỳ mang thai nếu bị nhiễm trùng cần điều trị. Tuy nhiên, các loại kháng sinh khác ít gây tác dụng phụ có thể phù hợp hơn, tùy thuộc vào loại nhiễm trùng mỗi người. Hãy trao đổi với bác sĩ về việc dùng azithromycin vì chỉ nên dùng thuốc nếu lợi ích vượt trội hơn những rủi ro có thể xảy ra.
Nếu bác sĩ hoặc nhân viên y tế cho biết em bé của bạn khỏe mạnh, bạn có thể dùng kháng sinh này trong thời gian cho con bú. Azithromycin đi vào sữa mẹ với lượng nhỏ. Thuốc này chưa được biết là gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào ở trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, các mẹ cần đặc biệt lưu ý và nên chia sẻ với bác sĩ nếu:
Chưa có nghiên cứu nào chứng minh ảnh hưởng của kháng sinh này đối với khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Tuy nhiên, cần đề phòng tác dụng không muốn như chóng mặt, đau đầu, co giật khi thực hiện các hoạt động này.
Người bệnh sẽ cảm thấy khỏe hơn sau vài ngày điều trị bằng thuốc azithromycin. Tuy nhiên cần tiếp tục dùng thuốc này cho đến khi kết thúc liệu trình. Uống đủ liều thuốc sẽ giúp ngăn ngừa nhiễm trùng quay trở lại.
Một số người bị nhiễm nấm gọi là tưa miệng sau khi dùng một đợt kháng sinh như azithromycin. Điều này xảy ra vì kháng sinh giết chết vi khuẩn vô hại bình thường giúp bảo vệ bạn khỏi tưa miệng. Các triệu chứng của bệnh tưa miệng bao gồm đỏ và ngứa. Phụ nữ có thể bị ngứa âm đạo. Nếu gặp các tác dụng phụ này bạn nên trao đổi với bác sĩ.
Để biết thêm thông tin về thuốc azithromycin hoặc cần tư vấn sử dụng thuốc hỗ điều trị các bệnh lý, quý khách vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Azithromycin là thuốc kháng sinh nhóm macrolid. Nên để thuốc tránh xa của trẻ em, không nên chia sẻ thuốc với người khác, chỉ sử dụng thuốc này cho chỉ định được kê đơn. Luôn tham khảo ý kiến của bác sĩ về liều dùng, cách dùng. Nếu gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng cần chủ động đến bệnh viện để được thăm khám và điều trị sớm.