Hẹp mạch vành 70% là một mức độ tắc nghẽn đáng kể, báo hiệu rủi ro tim mạch cao. Vậy tình trạng này có cần can thiệp không? Làm thế nào phòng ngừa bệnh tiến triển sang mức hẹp cao hơn?
Hẹp mạch vành 70% là gì?
Hẹp mạch vành 70% là tình trạng mảng xơ vữa đã chiếm phần lớn diện tích lòng mạch và gây hẹp với tỷ lệ lên đến 70% trong lòng động mạch vành, mức độ khá nặng làm tăng biến chứng nguy hiểm nên người bệnh cần được theo dõi sức khỏe tim mạch thường xuyên để kịp thời xử trí, can thiệp.
Mạch vành bị hẹp 70% là mức độ khá nặng, làm tăng biến chứng nguy hiểm
Khi còn trẻ, mức độ hẹp có thể từ 1-20%, diễn tiến đến 30%, 40% với những dấu hiệu rất âm thầm, khó nhận biết. Khi từ 50 tuổi trở lên, mức độ mạch vành bị hẹp từ 50%, 60% đến 70%, 80%, 90%, 100%. Ngoài tuổi tác, các yếu tố nguy cơ như huyết áp kiểm soát kém, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu làm tăng tốc độ diễn tiến của bệnh. Mạch vành hẹp thường có cơ chế bù trừ của thành mạch do đó thường không có triệu chứng, chỉ khi hẹp trên 70% mới thường biểu hiện triệu chứng là đau ngực.
Tốc độ mạch vành bị hẹp ở mỗi người nhanh hay chậm còn tùy thuộc nhiều yếu tố như bệnh lý (đái tháo đường, béo phì, mỡ máu cao…) thói quen sinh hoạt (hút thuốc lá, thường xuyên thức khuya)… Thông thường, mức độ hẹp đáng kể là khi vượt quá 50% và hẹp nặng khi tắc nghẽn vượt quá mức 70%.
Hẹp mạch vành 70% có nguy hiểm không?
Mức độ mạch vành bị hẹp 70% được phân loại là hẹp nặng, mức độ nguy hiểm, làm suy giảm chức năng tim. Khi bệnh đến giai đoạn tiến triển, các mạch máu ngày càng bị tắc nghẽn, cơn đau càng xuất hiện với tần suất dày hơn khi gắng sức nhẹ, thậm chí kể cả khi nghỉ ngơi.
Động mạch vành bị thu hẹp hoặc tắc nghẽn làm giảm hoặc thậm chí “cắt đứt” nguồn cung cấp máu và oxy cho tim. Hiện tượng này gây ra cơn đau ngực (đau thắt ngực), nhồi máu cơ tim hoặc thậm chí tử vong đột ngột.
Hình ảnh chụp một trường hợp mạch vành có mức độ hẹp 70%
Trong một số trường hợp, bệnh mạch vành diễn tiến phức tạp hơn do mảng xơ vữa bị nứt, vỡ đột ngột làm hình thành huyết khối (cục máu đông), gây tắc nghẽn hoàn toàn hoặc một phần động mạch. Y học gọi hiện tượng này là hội chứng mạch vành cấp tính. Hội chứng này gây nhồi máu cơ tim cấp tính (hoặc hoại tử tế bào cơ tim), một biến chứng nghiêm trọng phải tái thông lòng mạch ngay lập tức bằng phương pháp tiêu sợi huyết hoặc nong mạch.
Về lâu dài, tình trạng mạch vành bị hẹp còn đáng quan ngại khi làm tăng nguy cơ dẫn đến các biến chứng suy tim, rối loạn nhịp tim.
Người bị hẹp mạch vành 70% thường gặp triệu chứng gì?
Cũng như các mức độ hẹp khác, mạch vành có mức độ hẹp 70% dẫn đến tim không nhận đủ máu giàu oxy và các triệu chứng có thể gặp bao gồm:
Đau ngực/đau thắt ngực: Người bệnh bị ép tim, có cảm giác bị đè nén, căng tức hoặc đau ở ngực như thể có ai đó đang đứng trên ngực. Vị trí đau thường ở giữa hoặc bên trái ngực. Cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện khi bản thân trải qua cảm xúc mạnh hoặc vận động mạnh. Đau như thế nào, dữ dội hay thoáng qua còn phụ thuộc vào nguyên nhân, chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi và tác dụng của thuốc điều trị triệu chứng.
Khó thở: Cảm giác khó thở hoặc không thở được thường gặp ở những người bị hẹp mạch vành mức độ nặng.
Mệt mỏi: Do chức năng hoạt động của tim thay đổi, không đáp ứng được việc bơm máu đủ để nuôi cơ thể nên cảm giác mệt mỏi sẽ xuất hiện thường xuyên hơn, đặc biệt nếu không được can thiệp điều trị.
Đau ngực là triệu chứng phổ biến của người bệnh có mạch vành bị hẹp
Những triệu chứng này thường diễn ra âm thầm và không quá rõ rệt. Đôi khi chỉ như tim đập nhanh do tập thể dục và chỉ thực sự bộc lộ rõ khi mức độ hẹp ngày càng tăng theo tuổi tác cũng như các yếu tố góp phần đẩy nhanh quá trình hẹp mạch vành.
Nguyên nhân hẹp mạch vành tăng lên mức 70%
Cơ chế bệnh sinh và nguyên lý dẫn đến hẹp động mạch vành 70% hay 80%, 90% được các chuyên gia đánh giá là rất phức tạp, đồng thời có nhiều yếu tố nguy cơ gây xơ vữa (1). Ngoài một số yếu tố không thể tránh khỏi như tuổi tác (càng cao tuổi nguy cơ hẹp càng tăng), giới tính (nam giới có nguy cơ hẹp cao hơn nữ giới) và di truyền (gia đình có tiền sử mắc bệnh tim, khả năng mắc bệnh động mạch vành cao hơn) còn có các yếu tố nguy cơ khác liên quan đến lối sống gồm:
Thói quen hút thuốc: Theo Hiệp hội quốc gia phòng chống nghiện rượu và nghiện ma túy (ANPAA), hút thuốc lá chủ động hay thụ động đều đặc biệt có hại cho hệ tim mạch, làm giảm lượng oxy trong máu, làm căng thẳng động mạch, gây ra tình trạng co thắt. Thuốc lá còn ảnh hưởng đến quá trình đông máu, thúc đẩy sự hình thành cục máu đông và do đó có khả năng gây ra đau tim, viêm tĩnh mạch hoặc nhồi máu cơ tim. Ngoài ra, thuốc lá còn là nguyên nhân gây viêm mạch máu, hình thành cục máu đông, giảm mức cholesterol tốt, đe dọa lâu dài đến sức khỏe tim mạch. (2)
Lượng cholesterol cao: Các nghiên cứu phát hiện ra rằng khác biệt lớn giữa các hạt lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL – “cholesterol xấu”) và các hạt lipoprotein tỷ trọng cao (HDL – “cholesterol tốt”) đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bệnh động mạch vành. Trong khi HDL vận chuyển cholesterol từ máu về gan, tách cholesterol khỏi các mảng xơ vữa, giúp giảm nguy cơ xơ vữa động mạch thì LDL nếu tồn tại trong máu nhiều sẽ gây ra tình trạng lắng đọng ở thành mạch máu, tạo ra các mảng xơ vữa.
Thừa cân: Nhiều người thắc mắc mức độ hẹp 70% có nguy hiểm không, câu trả lời một phần còn nằm ở tình trạng cân nặng của người bệnh. Thừa cân, béo bụng là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch `và tử vong sớm, trong đó có bệnh mạch vành. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy chất béo tích tụ chủ yếu ở mô mỡ nội tạng (VAT) có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch chuyển hóa.
Bệnh đái tháo đường: Một người mắc bệnh đái tháo đường (bệnh tiểu đường) sẽ dư thừa lượng glucose dẫn đến sự hình thành các mảng xơ vữa động mạch (chủ yếu do cholesterol tạo thành) trên thành động mạch và mạch máu, gây tổn thương mạch máu và hệ tim mạch. Theo thời gian, các mảng bám này xơ hóa, vôi hóa và đây chính là tình trạng xơ vữa động mạch, dẫn đến hẹp trong lòng mạch vành.
Tăng huyết áp: Tăng huyết áp gây ra sự rối loạn chức năng nội mạc mạch máu và thúc đẩy các tế bào nội mạc mạch máu chết đi nhanh hơn. Đây là nguyên nhân chính khiến tăng huyết áp là một trong những yếu tố hình thành mảng xơ vữa động mạch, gây hẹp động mạch.
Khi nào cần can thiệp điều trị?
Tình trạng hẹp mạch vành 70% có chỉ định can thiệp hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Giới tính.
Độ tuổi.
Tần suất và mức độ của các cơn đau thắt ngực.
Tình trạng đáp ứng thuốc điều trị.
Mức độ ảnh hưởng của tình trạng bệnh đến cuộc sống.
Thiếu máu cơ tim cấp tính đe dọa đến tính mạng.
Vị trí đoạn mạch bị hẹp gây nguy hiểm.
Cách chẩn đoán xác định mạch vành hẹp mức 70%
Ảnh chụp MSCT động mạch vành thực tế làm nổi bật cấu trúc tim và các mạch máu để chẩn đoán bệnh mức độ hẹp của mạch vành.
Khi nhận biết vôi hóa động mạch luôn tồn tại song song cùng bệnh mạch vành, y giới đã có những giải pháp để đánh giá mức độ vôi hóa tại các động mạch xơ vữa. Trước đây, X-quang tim là phương pháp khảo sát vôi hóa động mạch vành khá khả dụng nhưng kém khách quan. Sau này máy chụp CT cắt lớp (MSCT) ra đời, tạo ra bước ngoặt mới, tái dựng hình ảnh rõ nét và khá chính xác.
Máy chụp CT tim đã và đang phát triển nhanh chóng với sự ra đời của các thế hệ máy siêu lát cắt, giúp định lượng mảng bám canxi và hình ảnh động mạch vành mà không xâm lấn. Tính điểm canxi hóa là phép đo mức độ mảng xơ vữa động mạch trong động mạch vành.
Các nghiên cứu mô học cho thấy tình trạng vôi hóa có thể nhìn thấy chỉ chiếm 20% phạm vi mảng xơ vữa động mạch. Trong khi đó, những người có điểm canxi bằng 0 vẫn có nguy cơ mắc các vấn đề tim mạch (không loại trừ được mảng bám không vôi hóa) do đó không thể thực hiện bằng các xét nghiệm xâm lấn trước đây.
Về thang điểm canxi hóa, cách tính như sau:
0 điểm: Không mảng vôi hóa.
1 – 99 điểm: Mức nhẹ (tỷ lệ tử vong hoặc nhồi máu cơ tim hàng năm < 1%).
100 – 399: Mức trung bình (tỷ lệ tử vong hoặc nhồi máu cơ tim hàng năm từ 1-3%).
Từ trên 400 điểm: Mức nặng (nguy cơ cao, tỷ lệ tử vong hoặc nhồi máu cơ tim hàng năm >3%).
Đến thời điểm hiện tại, thế hệ máy chụp CT động mạch vành cao cấp CT Somatom Force VB30 nhờ chất cản quang chứa i-ốt đã hạn chế tối thiểu độ phơi nhiễm, giúp phát hiện các mảng bám ở mật độ thấp liên quan đến mảng bám lipid có nguy cơ vỡ, đồng thời phân biệt được với mảng xơ bám. Ngoài ra, máy còn hỗ trợ chẩn đoán các bệnh lý cấu trúc, khảo sát chức năng tim, làm căn cứ để bác sĩ đánh giá và đưa ra phác đồ điều trị bệnh đích.
Ngoài phương pháp trên, để xác định mức độ bệnh mạch vành, bác sĩ có thể dùng các phương pháp xâm lấn khác như: luồn ống thông chụp mạch từ mạch máu tay; bơm trực tiếp thuốc cản quang vào mạch vành cho hình ảnh trực tiếp.
Chụp động mạch vành qua ống thông (Catheter): Tại phòng thông tim, ống thông nhỏ bằng đầu đũa được bác sĩ luồn qua đường động mạch tại vị trí cổ tay (hoặc động mạch đùi) của người bệnh để đến động mạch vành. Lúc này, bác sĩ sẽ bơm trực tiếp thuốc cản quang vào động mạch vành. Nhờ sự hỗ trợ của máy chụp mạch số hóa xóa nền – DSA (Digital Subtraction Angiography), hình ảnh rõ nét nhất của mạch sẽ được ghi lại, là cơ sở để bác sĩ chẩn đoán chính xác và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.
Bơm thuốc cản quang trực tiếp vào mạch vành: Thuốc cản quang được tiêm qua đường tĩnh mạch của người bệnh, sau đó theo dòng máu, thuốc đi đến động mạch vành. Hình ảnh giải phẫu từ máy chụp CT sẽ được chụp lại. Người bệnh không phải chịu đau nhiều với phương pháp chẩn đoán này.
Đặt Catheter tại Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM
Hẹp mạch vành 70% cần làm thêm chẩn đoán nào?
Để xác định được mức độ nghiêm trọng của bệnh mạch vành, có thể dùng các phương pháp chẩn đoán sau:
Xét nghiệm máu: Trong hai phương pháp xét nghiệm máu quan trọng trong lĩnh vực tim mạch, xét nghiệm định lượng protein phản ứng C có độ nhạy cao (hs-CRP) là liên quan trực tiếp đến tình trạng xơ vữa động mạch và nguy cơ bệnh tim. Ngoài ra, xét nghiệm lipid máu cũng có thể giúp đánh giá mức độ tích tụ mảng xơ vữa trong động mạch.
Điện tâm đồ (ECG): Đây là biện pháp ghi lại tín hiệu điện trong tim khi nghỉ ngơi, thông qua đó theo dõi được tình trạng sức khỏe tim mạch để có hướng điều trị đúng cách. Dù y học tiến bộ đã có những biện pháp hiện đại hơn nhưng ECG vẫn rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh mạch vành cấp và mạn tính.
Nghiệm pháp gắng sức: So với thông tim, đây là biện pháp ít tốn kém và giảm xâm lấn giúp phát hiện những bất thường của lưu lượng máu. Tuy nhiên, với những bệnh nhân có khả năng mắc bệnh động mạch vành thấp nhất, biện pháp này kém chính xác hơn.
Chụp canxi mạch vành (coronary calcium scan – CAC): Chụp canxi động mạch vành thường sử dụng máy chụp CT đa đầu dò hoặc nhiều lát cắt, nhiều thiết bị X-quang đặc biệt để tạo ra nhiều hình ảnh chi tiết về động mạch vành. Đây là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, hiệu quả trong việc phát hiện mảng xơ vữa trên thành động mạch, giúp đánh giá được nguy cơ tiến triển nhồi máu cơ tim do xơ vữa động mạch.
Siêu âm tim: Cơ tim sẽ suy, vận động bất thường hoặc ngưng khi mạch vành bị hẹp. Siêu âm tim cho phép bác sĩ quan sát chức năng hoạt động của cơ tim thông qua hoạt động giãn nở của buồng tim, mức độ co bóp thành tim và những thay đổi trong chức năng tổng thể của tim.
Phương pháp điều trị hẹp mạch vành
Việc điều trị hẹp mạch vành bằng phương pháp đặt stent nong mạch gần như là giải pháp tối ưu. Ngoài ra, điều trị theo phương pháp nào còn phụ thuộc vào mức độ cấp bách (có hội chứng mạch vành cấp hay không).
Nếu là hội chứng mạch vành cấp hoặc nhồi máu cơ tim cấp, cần đưa người bệnh nhập viện sớm nhất tại khoa Cấp cứu của các bệnh viện uy tín. Tại đây các biện pháp xử trí bao gồm: liệu pháp chống tiểu cầu kép (sử dụng Aspirin và thuốc chống đông máu toàn thân), morphin (cắt nhanh cơn đau ngực dữ dội). Sau khi người bệnh đáp ứng thuốc, nhanh chóng chuyển sang chăm sóc tim mạch chuyên sâu. Các biện pháp khẩn cấp như đặt stent tái thông động mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
Với bệnh hẹp động mạch vành mạn, kết quả chụp mạch vành sẽ là căn cứ để bác sĩ đưa ra quyết định chọn một trong các cách xử trí sau:
Điều trị nội khoa (chỉ dùng thuốc, không can thiệp nong động mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu).
Nong động mạch vành trong lần chụp mạch vành đầu tiên hoặc trì hoãn, đợi lần chụp thứ hai để có thêm thời gian hội chẩn.
Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
GS.TS.BS Võ Thành Nhân Ca can thiệp đặt stent graft tại Trung tâm Tim mạch can thiệp
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh áp dụng các kỹ thuật tiên tiến trong đặt stent điều trị hẹp động mạch vành như chụp và can thiệp mạch vành Cardiac Swing, siêu âm trong lòng mạch (IVUS), chụp kết quang nội mạch (OCT)… giúp giảm nguy cơ tắc cấp, tái hẹp sau điều trị
Đối với bệnh nhân bệnh mạch vành trở lên kết hợp các yếu tố nguy cơ khác và tình trạng bệnh lý kèm theo của từng người bệnh, bác sĩ sẽ chọn phương pháp điều trị bằng can thiệp đặt stent nong mạch hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
Biện pháp chăm sóc và ngăn ngừa hẹp mạch vành 70% tiến triển nặng
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ là cách phòng ngừa bệnh động mạch vành tốt nhất. Bắt đầu bằng việc tập dần những thói quen tốt cho sức khỏe tim mạch như sau:
Theo dõi các chỉ số sức khỏe: Những chỉ số bao gồm cholesterol HDL và LDL, cholesterol toàn phần và triglyceride, huyết áp, glucose, BMI và số đo vòng eo là những chỉ số cần theo dõi để kiểm soát các vấn đề tim mạch.
Không hút thuốc lá và hít khói thuốc thụ động: Thuốc lá rất độc hại, là nguyên nhân chính gây đau tim. Nếu thành viên trong gia đình hút thuốc, hãy trao đổi với nhau vì sức khỏe trước hết của người bệnh bệnh mạch vành .
Hạn chế thực phẩm có hại và bổ sung thực phẩm có ích cho tim mạch: Chúng ta nên ăn ít thực phẩm chứa chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa; ưu tiên chất béo không bão hòa đơn và không bão hòa đa thường có trong dầu ô liu và cá, các thực phẩm giàu chất xơ. Ngoài ra, người bệnh nên giảm bớt lượng muối và đường trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Tăng cường vận động: Vận động không nên bắt đầu từ sở thích mà là từ lợi ích tim mạch. Tập thể dục ít nhất 150 phút (2,5 giờ) mỗi tuần hoặc 75 phút (1,25 giờ) cho các bài tập tăng cường mỗi tuần. Nếu quá bận, hãy cố gắng vận động đều đặn 30 phút mỗi ngày.
Kiểm soát thừa cân: Người bình thường cũng như người có bệnh mạch vành cần kiểm soát cân nặng giúp phòng ngừa nguy cơ tiến triển bệnh động mạch vành.
Tránh căng thẳng, sống lành mạnh: Chúng ta khó tránh khỏi tình trạng căng thẳng trong cuộc sống, tuy nhiên nếu kéo dài sẽ dẫn đến rất nhiều thói quen có hại như ăn uống vô độ, rượu bia, ngồi hoặc nằm một chỗ quá nhiều… Chúng ta có thể gặp gỡ bạn bè, chơi thể thao hoặc tham gia một khóa tập nào đó mà bản thân hứng thú.
Câu hỏi thường gặp
1. Biến chứng nào nguy hiểm nhất của bệnh mạch vành mạn?
Sau nhiều năm trì hoãn không điều trị bệnh hẹp mạch vành, người bệnh có thể bị hẹp hoàn toàn. Khi đó, đường dẫn máu, chất dinh dưỡng và oxy vận chuyển đến nuôi tim bị tắc nghẽn, dẫn đến nhồi máu cơ tim (đau tức ngực và khó thở), rối loạn nhịp tim (nhịp tim không đều, đánh trống ngực, ngất xỉu) hoặc suy tim (một phần cơ tim yếu đi, khó thở, phù chân, mệt mỏi). Trong số này, biến chứng nhồi máu cơ tim cấp và suy tim là nghiêm trọng nhất, thậm chí có thể gây nguy kịch tính mạng.
2. Bệnh mạch vành mạn có chữa khỏi được không?
Có thể nong mạch vành bằng dụng cụ gọi là “ Stent mạch vành” sau đó mạch vành sẽ không còn hẹp nếu đoạn hẹp ngắn và mức độ hẹp nhiều, tuy nhiên cần kiểm soát các yếu tố nguy cơ cũng như bệnh đồng mắc để làm chậm quá trình tiến triển của vị trí hẹp mới hoặc tái hẹp tại vị trí đặt stent.
3. Có nguy cơ xảy ra tái hẹp mạch vành sau điều trị không?
Để tái thông lưu lượng máu của động mạch vành bị tắc nghẽn hoặc hẹp do xơ vữa, một trong những phương pháp được áp dụng điều trị đó là đặt stent nong mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Sau điều trị, vẫn có một tỷ lệ người bệnh bị tái hẹp. Thông thường, tái hẹp trong stent có xu hướng xảy ra từ 3 đến 6 tháng sau thủ thuật, khi các tế bào nội mô phát triển để che phủ lòng mạch có khả năng tăng sinh quá mức gây mô sẹo.
Tuy nhiên, tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, kỹ thuật đặt stent tiên tiến với sự hỗ trợ của hệ thống chụp mạch vành (DSA) cánh tay robot, siêu âm trong lòng mạch vành (IVUS), chụp kết quang nội mạch (OCT), nong stent tối ưu bằng bóng cứng lớn… giúp giảm tắc cấp, giảm tái hẹp, hạn chế biến chứng và tử vong so với kỹ thuật đặt stent thông thường. Các bác sĩ có thể nong stent lớn nhất (lên tới 110-120%) giúp tỷ lệ tái hẹp chỉ ở mức 0,2%, trong khi tỷ lệ thế giới cho phép là 5%.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Thông tin trên đã giải đáp phần nào cho những thắc mắc hẹp mạch vành 70% có nguy hiểm không? Người bệnh cần thăm khám theo dõi định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ và thay đổi lối sống để duy trì hiệu quả điều trị cũng như kiểm soát nguy cơ bệnh tiến triển nguy hiểm.
Cập nhật lần cuối: 19:50 09/08/2025
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Zhao, M., Guo, Z., Jia, G., Ma, R., & Li, M. (2021). Influencing factors of coronary artery stenosis in patients with stable coronary heart disease and a correlation analysis. American Journal of Translational Research, 13(8), 9522. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8430167/
Health. (2018). Smoking and heart disease. Vic.gov.au. https://www.betterhealth.vic.gov.au/health/healthyliving/smoking-and-heart-disease