Giả mạc bạch hầu do độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra. Lớp giả mạc này có thể tiềm ẩn biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời. Vậy đặc điểm tình trạng này ra sao? Có nguy hiểm không?
Giả mạc bạch hầu là gì?
Giả mạc bạch hầu là lớp màng màu trắng ngà hoặc màu xám, dày, dính chắc vào bề mặt của niêm mạc (thường là ở vùng hầu họng, thanh quản, amidan, khí quản). Đây là một trong các dấu hiệu đặc trưng, nguy hiểm của bệnh truyền nhiễm cấp tính này do loại vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra.
Giả mạc bệnh bạch hầu bao gồm các tế bào bạch cầu (WBC), các tế bào hồng cầu (RBC), những mảnh vỡ tế bào chết, vi sinh vật. Bệnh thường bắt đầu với triệu chứng viêm đỏ nhẹ tại vùng họng, tiếp đó tiến triển nhanh thành lớp giả mạc đặc trưng, có thể lan rộng ra, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn đường thở, gây suy hô hấp… Việc cố gắng bóc tách lớp giả mạc thường gây chảy máu, do chúng bám chặt vào niêm mạc bị tổn thương.
Ở thể bạch hầu ngoài da, người bệnh thường gặp những vết loét nông trên da, được bao phủ bởi lớp màng màu xám đặc trưng. Không giống như bệnh này ở đường hô hấp, những tổn thương ngoài da ít lan rộng hơn và thường không xâm lấn sâu vào mô xung quanh. Những vùng da này thường là vùng đã từng bị tổn thương trước đó như vết thương hở, vết trầy xước, bệnh da liễu có sẵn. Ở những vị trí đó, vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae dễ xâm nhập vào, phát triển và hình thành giả mạc đặc trưng của bệnh.
Mảng trắng xám ở họng có thể là giả mạc của bạch hầu.
Nguyên do hình thành lớp giả mạc trong bệnh bạch hầu
Lớp giả mạc bạch hầu hình thành do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae xâm nhập vào niêm mạc đường hô hấp của người bệnh, chủ yếu là tại vùng họng, thanh quản hoặc amidan. Vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae khi xâm nhập vào đường hô hấp trên tiết ra một loại ngoại độc tố mạnh (độc tố bạch hầu). Loại độc tố này có thể ức chế quá trình tổng hợp protein trong tế bào chủ, khiến tế bào hoại tử, dẫn đến tổn thương nặng tại chỗ. Sự phát triển của vi khuẩn cùng với phản ứng viêm của cơ thể dẫn đến sự hình thành lớp giả mạc.
Nếu độc tố tiếp tục được sản sinh, thấm vào máu, có thể lan đến những cơ quan xa như thận, tim hoặc hệ thần kinh, gây ra các biến chứng nặng như viêm cơ tim, suy thận hoặc liệt thần kinh. Mặc dù lớp giả mạc thường bong ra sau khoảng 7 – 10 ngày nhưng hậu quả do độc tố dẫn đến có thể kéo dài và diễn tiến nghiêm trọng, đặc biệt là trong các ca bệnh nặng không được chữa trị kịp thời.
Một số hình ảnh nhận biết giả mạc bạch hầu trên lâm sàng
Hình ảnh tình trạng này thường khá đặc trưng, giúp phân biệt bệnh bạch hầu với những tình trạng viêm họng thông thường. Mỗi người có thể tham khảo những hình ảnh màng giả dưới đây:
Hình ảnh giả mạc bạch hầu trên lâm sàng
Giả mạc bệnh bạch hầu không xử lý kịp có nguy cơ gì?
Phần lớn những biến chứng của bệnh bạch hầu bắt nguồn từ độc tố được tiết ra bởi vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae. Khi vùng hô hấp trên bị vi khuẩn tấn công, độc tố này sẽ thâm nhập vào máu, tiếp đó lan rộng ra khắp cơ thể, dẫn đến tổn thương tại nhiều cơ quan quan trọng. Những biến chứng có thể bao gồm:
Biến chứng thần kinh: Bệnh có thể tác động nghiêm trọng đến hệ thần kinh, gây ra các biểu hiện như yếu cơ hoặc liệt, thường gặp hơn cả là gây tổn thương các dây thần kinh sọ và dây thần kinh ngoại biên. Tình trạng này có thể làm suy giảm vận động ở các chi, tác động đến khả năng sinh hoạt thường ngày. Khi các cơ vùng hầu họng, vòm miệng bị ảnh hưởng, người bệnh có thể gặp tình trạng khó nuốt, gây ra hiện tượng trào ngược thức ăn, chất lỏng lên mũi – dấu hiệu gợi ý tổn thương thần kinh sọ. Dù ít gặp nhưng căn bệnh này có thể gây biến chứng viêm não (đặc biệt là ở trẻ em), dẫn đến các triệu chứng thần kinh trung ương nặng như co giật, rối loạn ý thức, thay đổi hành vi.
Tắc nghẽn đường thở: Ở bệnh bạch hầu giả mạc có thể hình thành dày đặc trên bề mặt niêm mạc họng, thanh quản, mũi có thể bóp nghẹt đường thở, khiến người bệnh khó thở, ngạt thở. Biến chứng này thường nặng hơn ở trẻ nhỏ hoặc ở người có đường hô hấp hẹp. Ở trường hợp khẩn cấp không xử lý kịp, tình trạng thiếu oxy não có thể xảy ra, gây tổn thương não không hồi phục hoặc dẫn đến tử vong.
Biến chứng tim: Viêm cơ tim là một trong những biến chứng nghiêm trọng của bệnh này, thường biểu hiện bằng tình trạng rối loạn nhịp tim như block nhĩ thất độ I, II, III, có thể dẫn đến suy tuần hoàn. Khi người bệnh được đo điện tâm đồ, có thể xuất hiện khoảng PR kéo dài, biến đổi sóng ST và T – các dấu hiệu đặc trưng của tổn thương cơ tim. Tỷ lệ tử vong do viêm cơ tim liên quan đến tình trạng này ở mức cao, dao động từ 60 – 80%, thường xảy ra trong vòng 6 – 10 ngày kể từ thời điểm bệnh khởi phát. Ước tính 10 – 25% người bệnh bạch hầu có nguy cơ phát triển biến chứng tim ở giai đoạn cấp tính hoặc trong vài tuần sau nhiễm. Viêm cơ tim về lâu dài có thể gây xơ hóa cơ tim, làm tổn thương van tim, tiến triển thành chứng suy tim mạn.
Bội nhiễm: Giả mạc không được xử lý đúng cách có thể diễn tiến thành ổ chứa vi khuẩn, gia tăng nguy cơ bội nhiễm, đặc biệt là tình trạng viêm phổi, viêm đường hô hấp kéo dài. Sự có mặt của những tác nhân gây bệnh thứ cấp khiến tình trạng sức khỏe của người bệnh chuyển biến xấu nhanh chóng, dẫn đến các triệu chứng như mệt lả, sốt cao, ho nhiều, suy giảm chức năng hô hấp nghiêm trọng.
Lây lan bệnh trong cộng đồng: Nếu không được kiểm soát, điều trị hiệu quả, vi khuẩn bạch hầu có thể lây lan ra cộng đồng qua đường hô hấp (tiếp xúc với giọt bắn chứa vi khuẩn của người nhiễm bệnh khi ho, hắt hơi, nói chuyện), lây gián tiếp khi tiếp xúc với các đồ dùng bị nhiễm dịch tiết từ người bệnh, lây nhiễm khi tiếp xúc trực tiếp với vùng da tổn thương hoặc vết loét do bạch hầu gây ra.
Không chữa trị kịp thời có thể gây tắc nghẽn đường thở, khó thở, ngạt thở
Cách xử trí khi xuất hiện giả mạc của bạch hầu
Khi đã xuất hiện giả mạc bạch hầu, người bệnh cần tiến hành điều trị khẩn cấp tại cơ sở y tế. Việc chữa trị không chỉ giúp loại bỏ vi khuẩn mà còn góp phần ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm. Một số cách chữa trị có thể được bác sĩ chỉ định áp dụng gồm:
Sử dụng thuốc: Kháng độc tố bạch hầu (DAT) có nguồn gốc từ huyết thanh ngựa, giữ vai trò quan trọng trong phác đồ điều trị bệnh. Kháng độc tố giúp trung hòa độc tố của bệnh không liên kết lưu thông trong máu. Loại thuốc này sử dụng càng sớm thì hiệu quả càng tốt. DAT không còn hiệu lực nếu độc tố đã gắn vào màng tế bào. Kháng độc tố có thể được dùng qua đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, liều dùng được điều chỉnh theo tình trạng lâm sàng của người bệnh, mức độ bệnh. Trước khi tiêm kháng độc tố, người bệnh cần trải qua việc xét nghiệm quá mẫn và cơ sở y tế phải có sẵn thuốc chống phản vệ khẩn cấp.
Điều trị kháng sinh: Việc bắt đầu sử dụng kháng sinh từ sớm có vai trò quan trọng để kịp thời loại bỏ vi khuẩn, hạn chế giải phóng độc tố, thúc đẩy quá trình phục hồi, ngăn ngừa nhiễm trùng lây lan sang người tiếp xúc gần. Người bệnh cần dùng kháng sinh đúng theo chỉ định của bác sĩ.
Phòng ngừa giả mạc bạch hầu bằng cách nào?
Cách phòng ngừa giả mạc bạch hầu chủ yếu tập trung vào việc ngăn chặn sự lây nhiễm, phát triển của vi khuẩn. Dưới đây là những biện pháp phòng bệnh có thể được áp dụng:
Mỗi người nên thăm khám sức khỏe định kỳ 1-2 lần/năm, chủ động theo dõi triệu chứng từ sớm. Nếu có dấu hiệu gợi ý như đau họng, khó nuốt, sốt, giả mạc trắng ở họng, hơi thở hôi… cần đi thăm khám, điều trị sớm, tránh để giả mạc lan rộng.
Người bệnh bạch hầu cần được cách ly để tránh lây lan vi khuẩn. Người tiếp xúc gần với người bệnh cần sử dụng khẩu trang và theo dõi sức khỏe.
Mỗi người nên thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đeo khẩu trang khi đến nơi đông người, có dịch bệnh lưu hành. Mặt khác, mỗi người cũng cần giữ vệ sinh không gian sống.
Hãy ăn uống đủ chất, dành thời gian nghỉ ngơi hợp lý, bổ sung các dưỡng chất như kẽm, vitamin C, giữ tinh thần thoải mái… để giúp hệ miễn dịch hoạt động hiệu quả, góp phần ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập, gây bệnh.
Tiêm vắc xin bạch hầu đầy đủ, đúng lịch cũng là cách hiệu quả để phòng bệnh, ngăn ngừa giả mạc hình thành.
Tiêm vắc xin có thể giúp phòng ngừa bệnh hiệu quả
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Tóm lại, ngay khi gặp tình trạng nghi ngờ giả mạc bạch hầu, người bệnh cần sớm đến cơ sở y tế uy tín thăm khám, đơn cử như tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Việc chẩn đoán điều trị bệnh này từ sớm giúp tối ưu hiệu quả chữa trị, ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm