Nếu nhận thấy ngực trở nên lổn nhổn, dày hoặc đau trong kỳ kinh nguyệt, chị em có thể nằm trong số 60% phụ nữ bị xơ nang tuyến vú [1]. Vậy chẩn đoán và điều trị xơ nang tuyến vú như thế nào? Phòng ngừa ra sao? Bài viết sau của thạc sĩ, bác sĩ Huỳnh Bá Tấn, khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM sẽ giải đáp chi tiết.
Khi nào cần điều trị xơ nang tuyến vú?
Cần điều trị xơ nang tuyến vú khi:
Phát hiện 1 khối u mới hoặc khối u đã tồn tại lâu ở vú.
1 vùng mô vú dày lên hoặc cứng lại rõ rệt.
1 vùng nào đó trong vú bị đau liên tục hoặc ngày càng nhiều hơn.
Những thay đổi ở ngực vẫn tiếp diễn sau kỳ kinh nguyệt.
Các phương pháp điều trị xơ nang tuyến vú hiệu quả
Nếu không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ, tình trạng xơ nang tuyến vú không cần điều trị. Các trường hợp đau nhiều hoặc u nang phát triển lớn có thể cần điều trị.
Khi cần thiết, bác sĩ sẽ chỉ định hướng điều trị của xơ nang tuyến vú là:
1. Chọc hút nang
Bác sĩ sử dụng 1 cây kim nhỏ như kim dùng xét nghiệm máu để hút dịch ra khỏi nang vú. Dịch này được gửi đến chuyên gia giải phẫu bệnh để kiểm tra xem có tế bào bất thường trong chất dịch hay không. Phương pháp này xác nhận khối u có phải nang vú đơn thuần hay không, đồng thời làm xẹp u nang và giảm khó chịu.
Chọc hút nang giúp xác nhận khối u là nang vú đơn thuần hay ác tính.
2. Phẫu thuật cắt bỏ
Nếu chọc hút nang nhiều lần mà vẫn tái phát thì có thể cần phẫu thuật cắt bỏ u nang. Tuy nhiên, phẫu thuật hiếm khi được áp dụng.
Bên cạnh các phương pháp điều trị chính, một số cách chữa xơ nang tuyến vú có tác dụng giảm đau ngực, cụ thể:
3. Thuốc giảm đau không kê đơn
Acetaminophen (Tylenol) hoặc thuốc chống viêm không steroid (NSAID), chẳng hạn như ibuprofen (Advil, Motrin IB…) hoặc thuốc theo toa giúp giảm đau do xơ nang tuyến vú.
4. Thuốc tránh thai dạng uống
Thuốc tránh thai dạng uống giúp giảm nồng độ hormone liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt, nguyên nhân gây xơ nang tuyến vú.
5. Tự điều trị tại nhà
Một số biện pháp tự điều trị tại nhà có thể giúp giảm tình trạng xơ nang vú cũng như cảm giác đau ngực:
Tinh dầu hoa anh thảo: loại dược liệu này có thể thay đổi sự cân bằng của axit béo trong tế bào, giúp giảm đau ngực.
Vitamin E: vitamin E đôi khi có tác dụng giảm đau với chứng đau ngực do xơ nang tuyến vú, thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt.
Thực phẩm bổ sung: một số loại thực phẩm chức năng có thể giúp giảm các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng của cơn đau ngực ở một số phụ nữ. Người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ về tác dụng cũng như liều lượng và tác dụng phụ của loại thực phẩm bổ sung mà mình sắp sử dụng.
Cách điều trị xơ nang tuyến vú phụ thuộc yếu tố nào?
Cách điều trị xơ nang tuyến vú phụ thuộc vào triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh. Các yếu tố ảnh hưởng cụ thể bao gồm:
Độ tuổi.
Đặc điểm của chu kỳ kinh nguyệt.
Dùng thuốc tránh thai.
Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.
Có đặc điểm bất thường, nghi ngờ ung thư.
Xơ nang tuyến vú xảy ra khi mô vú dày lên (xơ hóa) và nang chứa đầy dịch phát triển ở 1 hoặc cả 2 vú. Hormone được tạo trong buồng trứng trong thời kỳ kinh nguyệt có thể gây ra những thay đổi này. Điều này có thể khiến vú bị sưng, vón cục hoặc đau trước hoặc trong kỳ kinh nguyệt hàng tháng.
Hơn 50% phụ nữ mắc xơ nang tuyến vú vào 1 thời điểm nào đó trong đời. Tình trạng này phổ biến nhất ở độ tuổi từ 30-50. Bệnh hiếm gặp ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, ngoại trừ chị em đang dùng estrogen thay thế. Những thay đổi ở vú xơ nang không làm thay đổi nguy cơ ung thư vú. [2]
Các triệu chứng thường nặng hơn ngay trước kỳ kinh nguyệt và có xu hướng cải thiện sau khi kỳ kinh nguyệt bắt đầu. Nếu kinh nguyệt không đều, các triệu chứng có thể nghiêm trọng hơn. Nếu dùng thuốc tránh thai, người bệnh có thể gặp ít triệu chứng hơn. Trong hầu hết các trường hợp, các triệu chứng sẽ cải thiện sau khi mãn kinh.
Các triệu chứng có thể bao gồm:
Đau hoặc khó chịu ở cả 2 bên ngực có thể xuất hiện rồi biến mất trong kỳ kinh nguyệt nhưng có thể kéo dài suốt cả tháng.
Ngực có cảm giác đầy, sưng hoặc nặng.
Đau hoặc khó chịu ở vùng nách.
Các khối u ở vú thay đổi kích thước theo chu kỳ kinh nguyệt.
Người bệnh có thể có 1 khối u ở cùng 1 vùng vú, khối u này to lên trước mỗi kỳ kinh và trở lại kích thước ban đầu sau đó. Loại khối u này di chuyển khi ấn vào bằng ngón tay. Khối u không có cảm giác dính vào mô xung quanh.
Thạc sĩ, bác sĩ Huỳnh Bá Tấn, khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM đang tư vấn cho 1 khách hàng.
Tác dụng phụ rủi ro có thể gặp khi điều trị
Mục đích của điều trị xơ nang tuyến vú là giảm các triệu chứng như đau, sưng và thay đổi về cấu trúc tuyến vú. Tuy nhiên, như bất kỳ phương pháp điều trị nào, có thể phát sinh một số tác dụng phụ và rủi ro, cụ thể:
Sử dụng thuốc tránh thai nội tiết tố có thể gây các tác dụng phụ như: buồn nôn, tăng cân, thay đổi tâm trạng, nhức đầu và rối loạn kinh nguyệt. Thuốc còn tăng nguy cơ hình thành cục máu đông, đột quỵ và các vấn đề tim mạch, đặc biệt ở phụ nữ hút thuốc hoặc có tiền sử bệnh tim.
Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) có thể gây đau dạ dày, khó tiêu, buồn nôn, tiêu chảy hoặc táo bón. Sử dụng lâu dài có thể dẫn đến loét dạ dày, chảy máu tiêu hóa hoặc suy thận.
Sử dụng vitamin E, vitamin B6 hoặc các chất bổ sung khác quá liều có thể gây độc, ví dụ như vitamin E quá mức có thể tăng nguy cơ chảy máu.
Trong trường hợp nghiêm trọng hoặc không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác, phẫu thuật cắt bỏ được thực hiện, có thể gây nhiễm trùng, sẹo, thay đổi cảm giác ở vú hoặc da quanh vùng phẫu thuật. Trong quá trình phẫu thuật, người bệnh có thể bị suy hô hấp, phản ứng với thuốc mê.
Tuy nhiên, các tác dụng phụ này hiếm khi xảy ra, người bệnh nên đến các địa chỉ y tế uy tín để điều trị và tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi điều trị tại nhà.
Hướng phòng ngừa giúp hạn chế xơ nang tuyến vú
Một số biện pháp phòng ngừa, hạn chế xơ nang tuyến vú như:
Mặc áo ngực thể thao khi tập thể dục và khi ngủ, nhất là khi ngực nhạy cảm.
Hạn chế hoặc tránh xa caffeine, thay đổi chế độ ăn uống giúp giảm nguy cơ xơ nang tuyến vú mặc dù các nghiên cứu y khoa về tác động của caffeine với chứng đau ngực và các triệu chứng tiền kinh nguyệt khác vẫn chưa có kết luận rõ ràng.
Ăn ít chất béo hơn: có thể làm giảm đau ngực hoặc khó chịu liên quan đến bệnh xơ nang vú.
Giảm hoặc ngừng dùng liệu pháp hormone khi mãn kinh và trao đổi với bác sĩ trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi nào với thuốc uống theo toa đang sử dụng.
Sử dụng miếng đệm sưởi hoặc bình nước ấm để làm giảm cảm giác khó chịu.
Chẩn đoán và điều trị xơ nang tuyến vú tại khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ với các chuyên gia đầu ngành, thiết bị hiện đại, cụ thể:
Tầm soát, chẩn đoán bất thường tuyến vú với hệ thống trang thiết bị nhập khẩu chính hãng từ Âu – Mỹ: siêu âm Doppler tuyến vú; siêu âm đàn hồi mô vú; hệ thống chụp nhũ ảnh 3D tiên tiến nhất hiện nay – Mammomat (Siemens – Đức); chụp MRI 1,5 – 3 Tesla.
Sinh thiết tuyến vú với nhiều kỹ thuật đa dạng: chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA), sinh thiết lõi kim (CNB), sinh thiết có hỗ trợ của thiết bị hút chân không (VABB), mổ sinh thiết có phối hợp định vị kim dây.
Phẫu thuật loại bỏ u vú: phẫu thuật nội soi cắt tuyến vú giấu sẹo, phẫu thuật bảo tồn vú, phẫu thuật đoạn nhũ, phẫu thuật đoạn nhũ phòng ngừa đối bên…
Tái tạo vú tức thì và trì hoãn: tái tạo vú bằng vạt tự thân (vạt cơ thẳng bụng, vạt da cơ lưng rộng,…), tái tạo vú bằng túi ngực, tái tạo vú bằng vạt tự thân kết hợp túi ngực…
Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ: nâng ngực sa trễ, thu nhỏ vú phì đại, tái tạo núm vú và quầng vú…
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Những thay đổi do xơ nang tuyến vú thường không làm tăng nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên, nếu chị em có tiền sử gia đình mắc ung thư vú, nguy cơ có thể tăng nhẹ. Các triệu chứng của bệnh thường cải thiện sau khi mãn kinh. Khi phát hiện các triệu chứng bất thường, chị em nên đến gặp bác sĩ để được khám và điều trị xơ nang tuyến vú kịp thời.
Cập nhật lần cuối: 13:45 08/01/2025
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Stachs, A., Stubert, J., Reimer, T., & Hartmann, S. (2019). Benign breast disease in women. Deutsches Ärzteblatt International. https://doi.org/10.3238/arztebl.2019.0565