
Dịch kính hay dịch thủy tinh (hay pha lê thể) là một chất trong suốt, không màu, giống như gel, nằm ở khoang bên trong mắt, lấp đầy khoảng không giữa thủy tinh thể và võng mạc bên trong mắt [1]. Dịch kính võng mạc có chức năng duy trì áp lực nhãn cầu, cung cấp một số chất dinh dưỡng và mang lại tầm nhìn rõ nét. Cùng tìm hiểu rõ hơn về cấu tạo và những rủi ro khi dịch kính bị tổn thương qua bài viết.

Dịch kính (vitreous humor) là một chất giống như gel trong suốt nằm giữa thủy tinh thể và võng mạc của mắt. Dịch kính chủ yếu bao gồm nước, cùng với một tỷ lệ nhỏ collagen, glycosaminoglycan (đường), chất điện giải (muối) và protein. Dịch kính chiếm khoảng 80% tổng thể tích của mắt có chức năng quan trọng như duy trì hình dạng của mắt, hỗ trợ thị lực và hấp thụ chấn động.

Dịch kính là một khối trong suốt, không màu, dạng keo lấp đầy không gian trong mắt giữa thủy tinh thể và võng mạc. Nó được bao quanh bởi một lớp collagen gọi là dịch kính (hoặc màng trong suốt hoặc vỏ dịch) ngăn cách nó với phần còn lại của mắt. Nó chiếm bốn phần năm thể tích của nhãn cầu. Pha lê thể giống như chất lỏng gần trung tâm và giống như gel gần các cạnh.
Dịch thủy tinh tiếp xúc với màng dịch kính nằm trên võng mạc. Các sợi collagen gắn chặt dịch thủy tinh tại 2 vị trí thể thủy tinh vào đĩa thần kinh thị giác và ora serrata (nơi võng mạc kết thúc ở phía trước), tại dải Wieger, mặt sau của thể thuỷ tinh. Dịch kính cũng gắn chặt vào bao thể thủy tinh, mạch võng mạc và hoàng điểm, vùng võng mạc cung cấp chi tiết tốt hơn và tầm nhìn trung tâm.
Dịch kính không chứa mạch máu và 98–99% thể tích của nó là nước [2] (trái ngược với chỉ 75% ở giác mạc). Ngoài nước, dịch kính võng mạc bao gồm các muối, đường, vitrocin (một loại collagen), một mạng lưới các sợi collagen loại II với glycosaminoglycan, hyaluronan, opticin và một loạt các protein.
Mặc dù có ít chất rắn, chất lỏng này đủ lớn để lấp đầy mắt và tạo cho mắt hình cầu. Điều này trái ngược với dịch thủy tinh, vốn lỏng hơn, và mặt khác, thủy tinh thể có bản chất đàn hồi và được đóng chặt bằng các tế bào. Dịch thủy tinh có độ nhớt gấp hai đến bốn lần nước, tạo cho nó độ đặc giống như thạch. Nó có chiết suất là 1,336.
Với quá trình lão hóa bình thường, dịch kính có thể bắt đầu co lại do độ nhớt hoặc độ dày giảm [3]. Quá trình này được gọi là thoái hóa dịch kính. Khi chất lỏng chuyển từ chất giống gel đặc sang độ đặc lỏng loãng hơn, pha lê thể sẽ tách khỏi võng mạc. Điều này có thể dẫn đến hiện tượng ruồi bay trong dịch kính hoặc các gián đoạn nhỏ trong trường thị giác như các đốm, đường giống như mạng nhện hoặc vòng tròn.
Thông thường trong hầu hết các trường hợp không cần điều trị, vì các hiện tượng ruồi bay có xu hướng giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, ở một số trường hợp hiện tượng này cũng có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, do đó cần phải thăm khám để xác định, kiểm soát theo tình trạng cụ thể.
Ở một số trường hợp, thoái hóa dịch kính có thể dẫn đến bong dịch kính khỏi võng mạc, được gọi là bong dịch kính sau (PVD). Điều này có thể dẫn đến hiện tượng chớp sáng và các vật thể trôi nổi trong mắt. PVD cũng có thể khiến các mạch máu giãn ra và rách, dẫn đến xuất huyết dịch kính. Hơn nữa, bong dịch kính sau gây ra lực kéo trên võng mạc, có thể dẫn đến một số biến chứng như rách võng mạc, bong võng mạc hoặc lỗ hoàng điểm.
Rách võng mạc có thể xảy ra khi lớp lót ở phía sau mắt (võng mạc) bị rách do dịch kính kéo ra khỏi khỏi mặt trong nhãn cầu. Nếu không được điều trị kịp thời, rách võng mạc có thể dẫn đến bong võng mạc, cần phải phẫu thuật. Bong võng mạc thường biểu hiện dưới dạng nhìn thấy ánh sáng (hay còn gọi là chớp sáng trong trường nhìn), mờ mắt, giảm thị lực ngoại vi và đột nhiên xuất hiện nhiều vật thể trôi nổi. Nếu không được điều trị, bong võng mạc có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn ở mắt.
Trong một số trường hợp, điểm vàng cũng có thể bị rách khi dịch thủy tinh kéo ra khỏi võng mạc, gây ra một lỗ nhỏ. Lỗ thủng điểm vàng thường dẫn đến thị lực mờ hoặc méo mó.
Theo thời gian, dịch kính sẽ hóa lỏng, co lại và tách khỏi bề mặt bên trong của nhãn cầu.
Khi dịch kính thay đổi, các sợi collagen bên trong dịch kính tạo thành các cục và sợi. Những mảnh phân tán này chặn một số ánh sáng đi qua mắt. Điều này tạo ra những cái bóng nhỏ trên võng mạc của bệnh nhân được nhìn thấy như những vật thể trôi nổi.
Tình trạng co lại và kéo ra của dịch thủy tinh có thể gây ra một vết rách ở võng mạc dẫn đến bong võng mạc và các vấn đề nghiêm trọng về thị lực khác. Do đó, vẩn đục dịch kính cần được kiểm soát bằng cách thăm khám thường xuyên.
Xuất huyết dịch kính xảy ra khi máu rò rỉ vào pha lê thể bên trong mắt. Máu rò rỉ thường đến từ các mạch máu ở phía sau mắt (mạch máu võng mạc). Điều này có nhiều khả năng xảy ra nếu các mạch máu bị tổn thương (ví dụ, do chấn thương) hoặc đặc biệt dễ vỡ (do bệnh về mắt liên quan đến bệnh tiểu đường).
Xuất huyết dịch kính thường không gây mất thị lực vĩnh viễn. Máu ở cơ quan này thường sẽ hết trong vòng vài tuần hoặc vài tháng nếu điều trị đúng cách. Trừ khi võng mạc của bệnh nhân bị tổn thương, thị lực có thể sẽ không trở lại độ rõ nét như trước.

Trong quá trình trưởng thành, dịch thủy tinh lấp đầy mắt trở thành chất lỏng và ngưng tụ khi các sợi co lại và gây ra vật liệu dịch kính ngưng tụ. Thoái hóa dịch kính dẫn đến các đốm đen, vật thể trôi nổi được nhìn thấy như những chấm nhỏ di chuyển hoặc các đốm đen hoặc đường kẻ mỏng manh, hoặc ánh sáng nhấp nháy.
Giai đoạn cuối cùng của thoái hóa dịch kính phát triển khi bộ phận này tách hoàn toàn khỏi võng mạc, được gọi là bong dịch kính sau hoặc PVD. Tuy nhiên, nếu lực tách quá mạnh hoặc nếu có sự kết dính bất thường giữa gel dịch kính và võng mạc, nó có thể gây rách võng mạc, thường thấy ở 10-20% bệnh nhân bị thoái hóa dịch kính.
Bệnh nhân bị rách võng mạc thường đột ngột thấy ánh sáng nhấp nháy trông giống như tia chớp bên trong mắt bị ảnh hưởng, dễ thấy nhất trong môi trường tối. Nếu không được điều trị, bong võng mạc là một biến chứng nghiêm trọng có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn.
Bong dịch kính sau (PVD) xảy ra khi dịch kính tách khỏi võng mạc. Điều này dẫn đến hiện tượng ruồi bay và chớp sáng trong mắt có thể gây khó chịu nhưng thường vô hại. Tuy nhiên, ở một số trường hợp bong dịch kính cũng có thể dẫn đến các biến chứng như: bong võng mạc, rách võng mạc, lỗ hoàng điểm, nếp nhăn ở điểm vàng… gây suy giảm thị lực nghiêm trọng.
Tăng sinh dịch kính võng mạc (PVR) là một tình trạng mắt hiếm gặp có thể dẫn đến mất thị lực hoặc mù lòa. Tình trạng này xảy ra sau phẫu thuật sửa chữa bong võng mạc hoặc do chấn thương nhãn cầu hở (chấn thương nhãn cầu). Khi một người phát triển PVR, các tế bào trong võng mạc bắt đầu nhân lên và hình thành mô sẹo. Sẹo sẽ thắt chặt và kéo võng mạc ra xa.
Để chẩn đoán sức khỏe và tình trạng của dịch kính, bác sĩ có thể thực hiện một số phương pháp thăm khám như:
Bài kiểm tra thị lực được thực hiện bằng cách sử dụng biểu đồ Snellen được chiếu trên tường hoặc hiển thị trên màn hình. Các chữ cái to ở trên cùng và mỗi hàng sẽ ngày càng nhỏ dần khi nhìn xuống phía dưới biểu đồ. Bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân đọc các hàng cho đến khi không thể nhìn rõ các chữ cái. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu bệnh nhân kiểm tra thêm xem bệnh nhân có thể thấy sự khác biệt giữa các màu sắc hay không bằng cách sử dụng các chấm màu.
Để kiểm tra thị trường thông thường bác sĩ sẽ sử dụng biểu đồ lưới Amsler, đây là một công cụ giúp dễ dàng nhìn thấy các biến dạng trong thị lực do các tình trạng ảnh hưởng đến võng mạc. Biểu đồ Amsler là lưới vuông 10cm x 10cm, mỗi cạnh của lưới có 20 ô và có một chấm tròn đánh dấu tâm của lưới.
Bài kiểm tra mắt với biểu đồ Amsler giúp phát hiện ra một số tình trạng ảnh hưởng đến điểm vàng. Lưới Amsler cũng giúp bác sĩ biết các biến dạng nằm ở đâu trong trường thị giác.
Bác sĩ sẽ tra thuốc vào mắt của bệnh nhân để làm cho đồng tử giãn ra to hơn. Điều này giúp bác sĩ dễ dàng nhìn thấy tất cả các bộ phận của mắt. Bác sĩ sẽ tiến hành chiếu một chùm ánh sáng qua đồng tử bằng một dụng cụ gọi là máy soi đáy mắt. Máy soi đáy mắt có đèn và các thấu kính nhỏ khác nhau cho phép bác sĩ kiểm tra phía sau nhãn cầu.
Bác sĩ cũng có thể thực hiện giãn đồng tử để chụp ảnh đáy mắt hoặc chụp ảnh võng mạc và dây thần kinh thị giác.
Đo áp suất nội nhãn là đo lượng áp suất hoặc lực bên trong mắt. Chuyên gia nhãn khoa sẽ đo áp suất mắt bằng một xét nghiệm gọi là tonometry. Tonometry đo áp suất bên trong mắt bằng cách làm phẳng giác mạc (phần trong suốt ở phía trước mắt). Càng cần nhiều lực để làm phẳng giác mạc, thì áp suất mắt càng cao.
Loại đo nhãn áp phổ biến nhất là đo nhãn áp không tiếp xúc hoặc đo nhãn áp bằng luồng khí. Một máy sẽ thổi một luồng khí ngắn vào và đo mức độ chuyển động của giác mạc. Bác sĩ nhãn khoa cũng có thể đo áp suất nội nhãn bằng cách gây tê mắt bằng thuốc nhỏ mắt đặc biệt, sau đó ấn một dụng cụ vào giác mạc.
Phẫu thuật cắt dịch kính là phẫu thuật mắt loại bỏ dịch kính khỏi nhãn cầu. Phẫu thuật này có thể được thực hiện để loại bỏ dịch đục, dịch có mảnh vụn ở mắt. Ở một số trường hợp võng mạc tách khỏi mô xung quanh. Bác sĩ có thể thực hiện phẫu thuật cắt dịch kính để dễ dàng tiếp cận võng mạc và phục hồi.
Cắt dịch kính cũng có thể giúp bác sĩ tiếp cận điểm vàng, nằm ở trung tâm võng mạc và cung cấp tầm nhìn trung tâm sắc nét. Khi cắt dịch kính đi, việc điều trị sẽ dễ dàng hơn. Sau khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ thay thế bằng dịch trong silicon hoặc bong bóng khí cho đến khi cơ thể bạn bắt đầu sản xuất lại dịch kính. Sự thay thế này giúp mắt giữ nguyên hình dạng và võng mạc của bệnh nhân ở đúng vị trí.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến dịch kính võng mạc hay gặp phải các vấn đề liên quan đến bệnh lý nhãn khoa, hoặc cần tư vấn hẹn lịch thăm khám vui lòng liên hệ đến Trung tâm Mắt công nghệ cao BVĐK Tâm Anh qua phương thức:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bên trên là những thông tin chia sẻ về cấu tạo, chức năng và những rủi ro biến chứng có thể xảy ra khi dịch kính võng mạc bị tổn thương. Từ đó có thể thấy dịch kính võng mạc và các bộ phận cấu thành nên mắt đều có vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe thị lực. Do đó, cần thăm khám định kỳ tại các bệnh viện uy tín để kiểm soát thị lực và kịp thời phát hiện, điều trị các vấn đề về mắt.