Cầu thận (Glomerulus) đóng vai trò rất quan trọng đối với chức năng thận vì đây là đơn vị lọc chính, chịu trách nhiệm loại bỏ các sản phẩm chất thải và chất lỏng dư thừa khỏi máu. Tìm hiểu thêm về cấu tạo, vị trí, chức năng của bộ phận này qua những chia sẻ từ bác sĩ CKII Hồ Tấn Thông, Đơn vị Nội thận – Lọc máu, Trung tâm Khám chữa bệnh Tâm Anh Quận 7 trong bài viết bên dưới.
Cầu thận là gì?
Cầu thận (Glomerulus) là đơn vị lọc chính của thận, được hình thành bởi 1 mạng lưới các mạch máu nhỏ (mao mạch) được đặt trong 1 túi gọi là nang cầu thận (nang Bowman). Cầu thận nằm ở đầu đơn vị thận (nephron). Bộ phận này là thành phần quan trọng của nephron, là đơn vị chức năng của thận chịu trách nhiệm hình thành nước tiểu.
Vị trí cầu thận nằm ở đâu trong cơ thể?
Cầu thận nằm ở đầu nephron, bên trong nang cầu thận (nang Bowman). Ước tính, mỗi quả thận của 1 người trưởng thành có thể có từ 1 – 1.5 triệu nephron, trong đó cầu thận cũng có số lượng tương đương. (1)
Cấu tạo cầu thận
Cấu tạo của bộ phận gồm 3 phần chính:
1. Mao mạch cầu thận
Đây là những mạch máu riêng biệt tạo thành 1 búi trung tâm. Không giống như hầu hết các lớp mao quản, nằm giữa các tiểu động mạch và tĩnh mạch, mao mạch cầu thận nằm giữa 2 tiểu động mạch: tiểu động mạch đến (đưa máu vào cầu thận) và tiểu động mạch đi (mang máu đi ra khỏi cầu thận). Sự sắp xếp tuần tự này giúp duy trì áp suất cao trong cầu thận, điều này rất cần thiết cho việc lọc máu và chất lỏng.
2. Màng đáy cầu thận (GBM)
Màng đáy cầu thận là 1 lớp mỏng, hỗ trợ các mao mạch và hoạt động như 1 bộ lọc, ngăn chặn các phân tử lớn hơn như protein đi qua.
3. Lớp tế bào biểu mô có chân hay túc bào (podocyte)
Lớp tế bào biểu mô có chân (podocyte) tạo thành lớp lót bên trong của nang cầu thận (túi Bowman) và quấn quanh các mao mạch cầu thận. Chúng có các phần mở rộng giống như rễ cây gọi là “chân” quấn quanh mao mạch, xen kẽ, để lại những khoảng trống nhỏ gọi là “khe lọc”. Những khe này, cùng với GBM và nội mô mao mạch, tạo thành hàng rào lọc cầu thận.
Cấu tạo đơn giản của tế bào cầu thận
Vai trò và chức năng của cầu thận đối với cơ thể người
Vai trò và chức năng chính của cầu thận là lọc máu và chất lỏng. Khi máu chảy qua các mao mạch cầu thận dưới áp suất cao, nước, các chất hòa tan nhỏ (như chất điện giải, urê và creatinin), các sản phẩm chất thải bị lọc ra khỏi máu và cho vào nang Bowman. Chất lỏng này được gọi là dịch lọc cầu thận, sau đó được chuyển đến các phần còn lại của nephron để xử lý và tạo ra nước tiểu. (2)
Về bản chất, bộ phận này hoạt động giống như 1 cái rây lọc siêu nhỏ, cho phép các chất thải và chất lỏng dư thừa đi qua trong khi vẫn giữ các chất thiết yếu như tế bào máu và protein lớn trong máu. Các tổn thương gây thiệt hại cho cầu thận có thể làm thất thoát các chất như protein, các tế bào máu và các chất có kích thước lớn vào trong dịch lọc cầu thận rồi sau đó theo nước tiểu ra ngoài.
Các bệnh về cầu thận phổ biến thường gặp
Bệnh cầu thận là nhóm bệnh gồm các tình trạng thận đa dạng, ảnh hưởng đặc biệt đến cầu thận. Những bệnh này có thể gây ra các triệu chứng khác nhau, nếu không được điều trị, có thể tiến triển thành bệnh thận mạn tính (CKD) và thậm chí bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD), khi này thận mất gần như hoàn toàn chức năng và người bệnh phải lọc máu (chạy thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng) hoặc ghép thận.
Dưới đây là một số bệnh cầu thận phổ biến, được phân loại theo cơ chế cơ bản hoặc dựa trên các đặc điểm đặc trưng của chúng:
Viêm cầu thận là thuật ngữ rộng, chỉ các tình trạng viêm khác nhau ảnh hưởng đến cầu thận bao gồm:
Bệnh thận IgA (bệnh Berger): là nguyên nhân phổ biến nhất của viêm cầu thận nguyên phát trên toàn thế giới. Bệnh xảy ra khi 1 kháng thể gọi là immunoglobulin A (IgA) bất thường bám vào bề mặt cầu thận, dẫn đến tình trạng viêm và tổn thương cầu thận. Bệnh thận IgA thường xuất hiện với tình trạng tiểu máu, tiểu đạm, huyết áp tăng và giảm chức năng thận.
Viêm cầu thận sau nhiễm trùng (PIGN): loại viêm cầu thận này thường phát triển sau khi bị nhiễm trùng nhất định, thường là nhiễm liên cầu khuẩn.
Viêm cầu thận do viêm mạch máu ANCA: là tình trạng bệnh tự miễn trong đó các kháng thể ANCA (kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính) tấn công các mạch máu nhỏ, bao gồm cả những mạch máu trong thận. Các tình trạng cụ thể bao gồm: u hạt với viêm đa mạch (GPA), viêm đa vi mạch (MPA), viêm đa mạch bạch cầu ái toan (EGPA). Chúng có thể gây viêm cầu thận tiến triển nhanh (RPGN).
Viêm cầu thận do kháng thể kháng màng đáy cầu thận (anti GBM): là bệnh tự miễn hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, trong đó các kháng thể đặc biệt nhắm vào tấn công các thành phần của màng đáy cầu thận, dẫn đến tổn thương thận nhanh chóng và đôi khi liên quan đến phổi.
Viêm cầu thận tăng sinh màng (MPGN): là nhóm các bệnh ít gặp đặc trưng bởi sự dày lên tế bào trung mô và sự thay đổi cấu trúc của thành mao mạch cầu thận. Bệnh có thể là nguyên phát hoặc thứ phát. Bệnh viêm cầu thận này thường diễn tiến dần thành bệnh thận giai đoạn cuối và thường tái phát sau ghép thận.
Viêm cầu thận tiến triển nhanh (RPGN): không phải là 1 bệnh cụ thể mà là 1 hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự suy giảm nhanh chóng và nghiêm trọng về chức năng thận trong vài ngày đến vài tuần. Nó có thể được gây ra bởi các loại viêm cầu thận nghiêm trọng, thường có sự hình thành của các liềm thể trong cầu thận.
2. Các bệnh cầu thận không viêm
Các bệnh cầu thận không viêm chủ yếu liên quan đến những thay đổi hoặc tổn thương về cấu trúc đối với cầu thận, dẫn đến rò rỉ protein vào nước tiểu (protein niệu), thường có liên quan đến hội chứng thận hư. Các tình trạng cụ thể bao gồm:
Bệnh thận do đái tháo đường (Diabetic Nephropathy): là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh cầu thận và là nguyên nhân hàng đầu của suy thận. Nồng độ đường trong máu cao mạn tính trong bệnh tiểu đường làm hỏng các mạch máu nhỏ ở cầu thận theo thời gian, dẫn đến sẹo và suy yếu chức năng lọc.
Xơ hóa cầu thận khu trú từng phần (FSGS): được đặc trưng bởi mô sẹo trong một số phân đoạn của một số cầu thận. Xơ hóa cầu thận khu trú từng phần có thể là nguyên phát (vô căn) hoặc thứ phát do các yếu tố khác nhau như béo phì, nhiễm HIV, một số loại thuốc hoặc rối loạn di truyền.
Bệnh cầu thận màng: là nguyên nhân phổ biến gây hội chứng thận hư ở người trưởng thành, có liên quan đến sự dày lên của màng đáy cầu thận do sự lắng đọng của các phức hợp miễn dịch, dẫn đến tăng tính thấm và rò rỉ protein vào nước tiểu (protein niệu). Bệnh có thể nguyên phát (vô căn) hoặc thứ phát sau các bệnh tự miễn (như SLE), nhiễm trùng hoặc thuốc.
Bệnh thay đổi tối thiểu (MCD): là nguyên nhân phổ biến nhất của hội chứng thận hư ở trẻ em, mặc dù nó cũng có thể ảnh hưởng đến người lớn. Dưới kính hiển vi ánh sáng thông thường, cầu thận xuất hiện bình thường (thay đổi tối thiểu), nhưng kính hiển vi điện tử cho thấy thiệt hại rất nhỏ cho các tế bào podocytes, dẫn đến mất protein lớn trong nước tiểu.
Thoái hóa dạng bột (Amyloidosis): là một nhóm các bệnh trong đó các protein bất thường (amyloid) tích tụ trong các cơ quan khác nhau, bao gồm cả thận. Khi các amyloid bám vào bề mặt cầu thận sẽ làm suy yếu chức năng lọc của chúng.
3. Bệnh cầu thận di truyền
Bao gồm 2 nhóm bệnh chính, được xếp vào hàng di truyền hiếm gặp, bao gồm:
Hội chứng Alport: rối loạn di truyền ảnh hưởng đến thận, tai và mắt. Nó được gây ra bởi các đột biến ở các gen chịu trách nhiệm sản xuất collagen loại IV – thành phần quan trọng của màng đáy cầu thận, dẫn đến tổn thương thận tiến triển.
Bệnh Fabry: rối loạn di truyền hiếm gặp do sự thiếu hụt enzyme, dẫn đến sự tích tụ của chất béo trong các tế bào khác nhau, bao gồm cả những tế bào bên trong cầu thận.
Các bệnh về cầu thận nếu không được điều trị, có thể tiến triển thành bệnh thận mạn tính (CKD) và thậm chí bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD)
Hướng dẫn cách giúp duy trì cầu thận và thận luôn khỏe mạnh
Dưới đây là các cách giúp duy trì cầu thận và thận luôn khỏe mạnh:
Ăn một chế độ ăn uống cân bằng: ăn nhiều trái cây, rau, protein nạc (thịt nạc) và ngũ cốc nguyên hạt. Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và tránh thêm muối vào bữa ăn.
Giới hạn chất béo bão hòa và cholesterol thay vào đó hãy lựa chọn chất béo lành mạnh như axit béo omega-3 được tìm thấy trong cá, dầu hạt lanh và hạt óc chó.
Kiểm soát lượng đường trong máu: nếu mắc bệnh tiểu đường theo khuyến nghị của bác sĩ.
Tập luyện thể dục thường xuyên: đặt mục tiêu ít nhất 30 phút tập thể dục cường độ vừa phải trong hầu hết các ngày trong tuần hoặc 150 phút mỗi tuần. Tập thể dục thường xuyên giúp quản lý huyết áp và kiểm soát lượng đường trong máu.
Bỏ thuốc lá: vì hút thuốc làm hỏng mạch máu, làm giảm lưu lượng máu đến thận.
Hạn chế rượu, bia: uống quá nhiều rượu, bia có thể làm tăng huyết áp và gây ra các vấn đề về thận.
Kiểm soát căng thẳng: căng thẳng mạn tính có thể gây ra huyết áp cao và các vấn đề sức khỏe khác.
Ngủ đủ giấc: ngủ đủ giấc rất quan trọng đối với sức khỏe tổng thể, bao gồm cả chức năng thận.
Uống đủ nước: uống đủ chất lỏng, đặc biệt là nước lọc, để giúp thận lọc chất thải.
Uống thuốc theo chỉ định: thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ về tất cả các loại thuốc, bao gồm cả các loại thuốc cho huyết áp cao và các điều kiện khác. Tránh hoặc hạn chế các loại thuốc giảm đau, kháng viêm không kê đơn vì chúng có thể gây độc thận.
Khám sức khỏe định kỳ mỗi năm 2 lần để được kiểm tra chức năng thận, phát hiện và điều trị sớm các bệnh về thận có thể ảnh hưởng đến các cầu thận.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Cầu thận là bộ phận tuy nhỏ nhưng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc lọc máu, cân bằng chất lỏng, điện giải và điều hòa huyết động. Hy vọng với những thông tin bài viết vừa chia sẻ đã giúp bạn hiểu thêm về cấu tạo, chức năng và vị trí, cũng như các bệnh có thể ảnh hưởng đến đơn vị lọc siêu nhỏ này.
Cập nhật lần cuối: 12:12 03/01/2026
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Glomerulus. (2023, October 30). Kenhub. https://www.kenhub.com/en/library/anatomy/glomerulus
Pollak, M. R., Quaggin, S. E., Hoenig, M. P., & Dworkin, L. D. (2014). The Glomerulus. Clinical Journal of the American Society of Nephrology, 9(8), 1461–1469. https://doi.org/10.2215/cjn.09400913