Chạy thận sống được bao lâu? vừa là thắc mắc vừa là lo lắng của nhiều người mắc bệnh thận mạn. Bài viết này, bác sĩ CKII Hồ Tấn Thông, Đơn vị Nội thận – Lọc máu, Trung tâm Khám chữa bệnh Tâm Anh sẽ có những chia sẻ về tỷ lệ, tiên lượng sống khi chạy thận, cũng như giải đáp thắc mắc về việc chạy thận có phải chạy suốt đời không?

Chạy thận sống được 5, 10, 20 năm hoặc thậm chí dài hơn. Các bác sĩ Nội thận – Lọc máu cho biết, người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối (ESRD) vẫn có cuộc sống khỏe mạnh trong nhiều năm nhờ phương pháp chạy thận nhân tạo, thay thế chức năng thận, lọc màng bụng (PD),… giúp loại bỏ nước cũng như các chất dư thừa, chất độc hại trong máu. Thời gian sống của người bệnh chạy thận còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: sức khỏe tổng thể, độ tuổi, loại bệnh suy thận mắc phải, giới tính,…
Trong một số trường hợp, suy thận có thể là tình trạng tạm thời (suy thận cấp – AKI), nên việc chạy thận là tạm thời và khả năng hồi phục cao, thời gian sống của người bệnh sẽ dài. Thông thường, người bị suy thận mạn giai đoạn 5 sẽ cần được điều trị thay thế thận, gồm chạy thận nhân tạo, lọc màng bụng, hoặc ghép thận. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể tiến hành ghép thận ngay lập tức, vì vậy có thể cần phải lọc máu cho đến khi có thận hiến phù hợp. (1)
Tiên lượng sống sau khi khởi phát bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) dựa trên các yếu tố chính gồm:
Tuổi thọ trung bình của người chạy thận kéo dài trong khoảng 5 – 10 năm. Tuổi thọ khi chạy thận thay đổi tùy thuộc vào tình trạng bệnh nền hoặc các vấn đề sức khỏe ở thời điểm chạy thận, mức độ tuân thủ kế hoạch điều trị và nhiều yếu tố khác. Mặc dù thọ trung bình khi chạy thận là 5 – 10 năm, nhưng nhiều trường hợp đã sống tốt nhờ lọc máu tới 20, thậm chí 30 năm.

Nhìn chung, tỷ lệ sống của của các phương pháp điều trị mang lại cho người bệnh ESRD thấp. Dựa trên báo cáo của Hệ thống dữ liệu thận Hoa Kỳ (USRDS), tỷ lệ sống được điều chỉnh ở người bệnh chạy thận nhân tạo bằng máy (HD) là 57% sau 3 năm kể từ khi bắt đầu mắc ESKD thấp hơn so với 68% ở người bệnh chạy thận nhân tạo bằng lọc màng bụng (thẩm phân phúc mạc – PD).
Tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với người HD và PD lần lượt là 42% và 52%. Khi được ghép thận, tỷ lệ sống sót sau 3 năm tăng lên 85%, tỷ lệ sống sót chung của quần thể (phù hợp với độ tuổi và giới tính) là 92 – 94%. Tỷ lệ sống sót 5 năm đối với người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ đã được chứng minh là dài hơn hoặc ngắn hơn so với người bệnh ung thư.
Phạm vi tuổi thọ dự kiến trong báo cáo của Hệ thống Dữ liệu Thận Hoa Kỳ (USRDS) là khoảng 8 năm đối với người bệnh chạy thận nhân tạo từ 40 – 44 tuổi, đối với những người bệnh từ 60 – 64 tuổi là 4,5 năm. Tuy nhiên, để kết luận xem 1 trường hợp cụ thể, chạy thận sống được bao lâu? bác sĩ Nội thận – Lọc máu còn cần xem xét một số yếu tố liên quan đến tiên lượng sống, bao gồm:
Các bác sĩ Nội thận – Lọc máu lưu ý rằng, mặc dù đã có thống kê, nghiên cứu về số liệu cụ thể cho tiên lượng sống và tỷ lệ sống của người bệnh chạy thận nhân tạo. Tuy nhiên, các thông số này cũng chỉ là số liệu được ghi nhận trên 1 quần thể nghiên cứu nhất định và chỉ đóng vai trò là tiên lượng điều trị, tùy thuộc vào từng trường hợp, thời gian sống của người bệnh có thể dài hơn hoặc ngắn hơn.
Không thể kết luận chắc chắn hay đưa ra câu trả lời cụ thể về việc chạy thận nhân tạo sống được bao lâu, vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống của người bệnh, trong đó có nhiều yếu tố y học không thể can thiệp được.
Dưới đây là các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ của người bệnh chạy thận nhân tạo, được các bác sĩ Nội thận – Lọc máu xem xét trước khi đưa ra kết luận về tiên lượng điều trị cho bất kỳ trường hợp nào khi người bệnh thắc mắc về việc chạy thận nhân tạo sống được bao lâu?
Có 2 loại bệnh suy thận là: suy thận cấp tính (AKI) và suy thận mạn tính (hay bệnh thận mạn – CKD). Đối với người bệnh mắc suy thận cấp tính (AKI) thì việc chạy thận sẽ kéo dài cho đến khi chức năng thận hồi phục, không ảnh hưởng đến tiên lượng sống.
Đối với trường hợp mắc bệnh thận mạn (CKD), khi bệnh chuyển sang giai đoạn cuối, mức hoạt động của thận dưới 15%, bệnh tiến triển thành bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD), cần phải chạy thận nhân tạo, tiên lượng sống lúc này dựa trên độ tuổi, sức khỏe tổng thể và phương pháp chạy thận nhân tạo cụ thể mà người bệnh đang được điều trị. Khi này, tiên lượng sống của người bệnh CKD ngắn hơn nhiều so với người bệnh AKI.
Phụ nữ có nguy cơ tử vong cao hơn nam giới khi điều trị bằng chạy thận. Điều này được lý giải đo các sự chênh lệch về kích cỡ các cơ quan nội tạng giữa nam và nữ, được gọi chung là các yếu tố gây nhiễu trong quá trình lọc máu, dẫn đến nữ giới có nguy cơ nhận được liều lọc máu thấp hơn so với nam giới và làm tăng khả năng tử vong.

Người càng trẻ mắc ESRD thì tiên lượng sống càng cao. Ví dụ, 1 người mắc ESRD 20 tuổi có thể sống thêm 40 năm nữa trong khi 1 người mắc ESRD 80 tuổi có thể chỉ sống thêm được chưa đầy 5 năm nhờ điều trị bằng chạy thận nhân tạo.
Khả năng sống sót của người bệnh chạy thận giảm dần theo tuổi tác. Nam giới dưới 45 tuổi có tiên lượng sống cao hơn hơn nữ giới trong cùng độ tuổi. Khi bước sang độ tuổi 65, tỷ lệ tử vong khi chạy thận nhân tạo bắt đầu tăng lên và xu hướng tăng dần theo tuổi.
Tỷ lệ tử vong của người bệnh mắc ESKD cũng phụ thuộc vào thời gian kể từ khi bắt đầu lọc máu. Đối với các trường hợp chạy thận nhân tạo, tỷ lệ tử vong ban đầu giảm xuống và đạt mức thấp nhất trong năm thứ 2, sau đó tỷ lệ này liên tục tăng. Ở những trường hợp lọc màng bụng, có sự sụt giảm tỷ lệ sống, tuy nhiên tỷ lệ này sẽ tăng lên sau khi người bệnh đáp ứng điều trị với PD.
Ở những trường hợp mắc ESKD có gánh nặng bệnh tim mạch, như bệnh động mạch vành là nguyên nhân gây tử vong cao hàng đầu khi chạy thận nhân tạo. Nên, những người chạy thận nhân tạo không mắc bệnh tim thì nguy cơ tử vong thấp và tiên lượng sống cũng tốt hơn.
Tùy vào phương pháp chạy thận cụ thể được áp dụng, thời gian sống của người bệnh có thể thay đổi. Ví dụ: chạy thận bằng lọc máu nhân tạo (HD) với công nghệ hiện đại, bác sĩ có thể quản lý được các rủi ro trong quá trình lọc nên tiên lượng sống có thể cao hơn. Trong khi đó việc lọc màng bụng (PD) mặc dù có tỷ lệ tử vong thấp hơn, nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ biến chứng, nhiễm trùng, rủi ro khi thực hiện khiến phương pháp này ít được khuyến khích sử dụng. (3)
Trong chạy thận nhân tạo, máy thẩm tách (máy lọc) được sử dụng để loại bỏ chất thải và chất lỏng dư thừa từ máu, sau đó đưa máu đã lọc vào cơ thể. Trước khi bắt đầu chạy thận nhân tạo, cần thực hiện phẫu thuật để tạo đường tiếp cận mạch máu (mở đường vào mạch máu), thường là ở cánh tay. Vị trí này rất quan trọng để tạo đường đi cho máu, dễ dàng lấy máu từ cơ thể qua quả lọc và quay trở lại cơ thể. Phương pháp điều trị thường kéo dài khoảng 4 giờ và được thực hiện 3 lần mỗi tuần hoặc nhiều hơn, tùy vào từng trường hợp.
Lọc màng bụng (PD), máu được lọc bên trong cơ thể thay vì sử dụng máy thẩm tách. Đối với loại lọc máu này, niêm mạc bụng hoặc vùng bụng (còn gọi là phúc mạc) được sử dụng làm bộ lọc. Trước khi bắt đầu lọc màng bụng, cần phải thực hiện phẫu thuật nhỏ để đặt ống thông (ống mềm) vào bụng. Trong mỗi lần điều trị, vùng bụng sẽ dần dần được lấp đầy bằng chất thẩm tách (chất lỏng làm sạch được làm từ hỗn hợp nước, muối và các chất phụ gia khác) qua ống thông.
Khi máu chảy tự nhiên qua khu vực này, chất lỏng và chất thải dư thừa sẽ được kéo ra khỏi mạch máu và vào vùng bụng bằng dịch thẩm tách (gần giống như 1 nam châm). Sau vài giờ, hỗn hợp chất lỏng sẽ được dẫn lưu ra khỏi bụng bằng cách sử dụng cùng 1 ống thông và túi đã được sử dụng khi bắt đầu điều trị. Lọc màng bụng có thể được thực hiện ở hầu hết mọi nơi nếu có đủ vật tư cần thiết để thực hiện điều trị.
2 trong số các loại thẩm phân phúc mạc phổ biến nhất là:
Tóm lại, tỷ lệ tử vong chung ở các trường hợp chạy thận nhân tạo cao hơn 10 – 20 lần so với dân số chung. Nguy cơ tử vong lớn nhất trong 3 tháng đầu sau khi bắt đầu lọc máu. Tỷ lệ tử vong hàng năm là khoảng 9% với tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 40 – 50%. Nguyên nhân chính gây tử vong ở người bệnh chạy thận nhân tạo là bệnh tim mạch, sau đó là các biến chứng nhiễm trùng.

Đối tượng bắt buộc phải chạy thận để kéo dài sự sống là những người có chức năng thận không hoạt động bình thường. Nếu thận không hoạt động bình thường – ví dụ, do mắc bệnh thận mạn tính tiến triển (suy thận), thận không thể làm sạch máu đúng cách. Các chất thải và chất lỏng tích tụ đến mức nguy hiểm trong cơ thể. Nếu không được điều trị có thể gây ra một số triệu chứng khó chịu và cuối cùng gây tử vong.
Chạy thận nhân tạo có thể phải chạy suốt đời, nhưng không phải tất cả trường hợp chạy thận nhân tạo đều phải điều trị suốt đời. Thời gian chạy thận phụ thuộc vào loại bệnh thận mà người bệnh mắc phải. Những người mắc bệnh thận cấp tính (AKI) chỉ cần chạy thận cho đến khi thận phục hồi chức năng.
Ngược lại, đối với những người mắc bệnh thận mạn tính (CKD), việc chạy thận nhân tạo có thể là suốt đời hoặc kéo dài cho đến khi được ghép thận. Trong trường hợp có cơ hội được ghép thận nhưng người bệnh lại không đáp ứng điều trị vì sức khỏe tổng thể không đảm bảo, thì phải chạy thận suốt đời.
Xem chi tiết: Nếu không chạy thận sống được bao lâu?
Không có bất kỳ cách nào chắc chắn có thể giúp người bệnh chạy thận nhân tạo kéo dài tuổi thọ. Nhưng các lưu ý dưới đây tốt cho người bệnh trong việc chăm sóc sức khỏe khi chạy thận.
Dưới đây là các hướng dẫn chăm sóc người bệnh chạy thận:
Việc xây dựng lối sống lành mạnh cho người bệnh chạy thận nhân tạo nên bắt đầu với những thay đổi trong thói quen ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, như:
Những thay đổi về chế độ ăn uống này là cần thiết đối với những người chạy thận nhân tạo 3 lần/tuần. Nếu phải chạy thận nhân tạo thường xuyên hơn, người bệnh có thể phải giới hạn thêm lượng thức ăn và chất lỏng nạp vào cơ thể, điều này bác sĩ điều trị sẽ trao đổi rõ hơn trong từng trường hợp.
Lựa chọn địa điểm chạy thận công nghệ hiện đại là 1 quyết định quan trọng đối với những trường hợp cần điều trị lọc máu thường xuyên. Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn địa chỉ chạy thận công nghệ hiện đại gồm:

Đồng hành cùng bác sĩ điều trị để bác sĩ có thể theo dõi quá trình cơ thể thích nghi với việc chạy thận. Trao đổi với bác sĩ về những lo lắng của mình khi chạy thận nhân tạo, bác sĩ sẽ giúp giải đáp những thắc mắc và lo lắng kể trên, để người bệnh có tinh thần thoải mái nhất khi chuẩn bị điều trị.
Phương pháp điều trị thay thế cho chạy thận hiện tại là điều trị bảo tồn chức năng thận còn lại. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có thể áp dụng phương pháp này. Trọng tâm của phương pháp điều trị bảo tồn là kiểm soát các triệu chứng của bệnh thận mạn, không can thiệp lọc máu hay ghép thận.
Như vậy, chạy thận sống được 5, 10, 15 thậm chí 20 năm hoặc lâu hơn. Có rất nhiều yếu tố tác động đến thời gian sống của người chạy thận, nên tiên lượng cho từng trường hợp cụ thể có thể khác nhau. Khi lựa chọn địa điểm chạy thận người bệnh cũng nên cân nhắc đến chất lượng dịch vụ y tế và đội ngũ bác sĩ tại đó.
An tâm hơn khi lựa chọn chạy thận tại khoa Nội thận – Lọc máu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, BVĐK Tâm Anh TP.HCM và Đơn vị Nội thận – Lọc máu, Trung tâm Khám chữa bệnh Tâm Anh Quận 7. Tại đây, người bệnh sẽ được các bác sĩ chuyên khoa Nội thận – Lọc máu trực tiếp thực hiện thủ thuật chạy thận với quy trình an toàn, túc trực thăm khám để quản lý các rủi ro và can thiệp xử lý kịp thời các vấn đề sức khỏe có thể phát sinh khi lọc máu.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hy vọng, với những thông tin bài viết vừa chia sẻ đã giúp bạn giải đáp thắc mắc chạy thận sống được bao lâu? Có phải chạy thận suốt đời không? Điều trị bằng chạy thận nhân tạo giúp người bệnh cảm thấy thoải mái hơn, tiên lượng sống của người bệnh chạy thận nhân tạo cũng tốt hơn so với các phương pháp điều trị khác, lựa chọn cuối cùng vẫn là ở người bệnh.