So với nam giới, bí tiểu ở nữ giới ít phổ biến hơn. Bí tiểu là tình trạng bàng quang không thể được làm trống hoàn toàn hoặc không thể đi tiểu mặc dù có cảm giác buồn tiểu dữ dội.

Bí tiểu ở nữ giới là tình trạng bàng quang không được trống hoàn toàn, mặc dù đã đi tiểu nhưng vẫn còn một ít hoặc nhiều nước tiểu trong bàng quang. Hoặc trong một số trường hợp, người bệnh không thể đi tiểu được dù cảm giác rất muốn đi tiểu. Có 2 loại bí tiểu ở nữ là:

Nguyên nhân gây bí tiểu ở nữ giới được xác định do 1 trong 4 nguyên nhân nói chung: thần kinh, tắc nghẽn, dược lý và tâm sinh lý. Các nguyên nhân cụ thể và phổ biến bao gồm:(1)
Tuổi tác lớn ảnh hưởng đến sức co bóp, cảm giác của bàng quang và tốc độ dòng chảy nước tiểu. Khi những thay đổi liên quan đến tuổi tác này tiến triển, lượng nước tiểu còn lại sau khi đi tiểu tăng lên và bí tiểu dần hình thành. Các cơ chế của những thay đổi này bao gồm tỷ lệ collagen so với cơ bắp trong cơ chóp bàng quang tăng lên, bàng quang giảm dần cảm giác theo thời gian và sự nhận biết về cảm giác đi tiểu hết sẽ giảm dần bởi bộ não chi phối hoạt động của bàng quang.
Ước tính có khoảng 4% – 13% các trường hợp bí tiểu ở nữ giới có nguyên nhân do tắc nghẽn đầu ra bàng quang. Tắc nghẽn này có thể là di chứng sau phẫu thuật đặt vòng nâng cổ bàng quang (sling) hoặc sa tạng chậu. Những rối loạn này gây chèn ép hoặc làm hẹp niệu đạo, dẫn đến khả năng làm trống bàng quang bị suy yếu. Áp lực bên ngoài lên niệu đạo cũng có thể gây ra các vấn đề tương tự với chức năng bàng quang.
Áp lực niệu đạo bên ngoài thường do các nguyên nhân như táo bón, u xơ, khối u hoặc phẫu thuật sling. Một số u xơ và khối u vùng chậu có thể gây áp lực trực tiếp lên các dây thần kinh vùng chậu và gây ra bí tiểu. Ung thư niệu đạo có thể gây bí tiểu mạn tính, nhưng trường hợp này cực kỳ hiếm.
Táo bón là nguyên nhân gây bí tiểu hàng đầu ở trẻ em, nhưng người lớn vẫn có thể mắc tình trạng này. Các tổn thương niệu đạo như hẹp do sẹo, túi thừa và bệnh Carbuncles – nhóm nhọt đỏ, sưng và gây đau niệu đạo cũng có thể gây tắc nghẽn đầu ra bàng quang. Đôi khi, tắc nghẽn đầu ra của bàng quang là kết quả của nhiễm trùng hoặc các thủ thuật xâm lấn đường tiết niệu trước đó như tiêm botox niệu đạo thất bại.
Theo thời gian, sự co lại các cơ bàng quang làm giảm cường độ hoặc giảm thời gian co bóp bàng quang trong quá trình tống xuất nước tiểu, dẫn đến việc không làm trống bàng quang hoàn toàn. Các nguyên nhân phổ biến dẫn đến giảm khả năng hoạt động của các cơ bàng quang bao gồm: bệnh thần kinh vùng chậu, rối loạn hệ thần kinh trung ương, rối loạn chức năng cơ bàng quang, lão hóa, bệnh thần kinh và tác dụng phụ của thuốc.
Phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường có tỷ lệ bí tiểu mạn tính cao hơn so với nữ giới không mắc bệnh, do cả thay đổi thần kinh vận động và cảm giác. Ngoài ra, phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường trong thời gian dài sẽ phát triển bệnh thần kinh ngoại biên. Cơ chế cụ thể của bí tiểu do đái tháo đường là tình trạng tăng đường huyết kéo dài gây tăng tình trạng oxy hóa, dẫn đến sự giải phóng quá mức các cytokine trong tế bào thần kinh ngoại biên.
Điều này làm suy giảm lưu lượng máu mao mạch nuôi các tế bào thần kinh, gây thiếu máu cục bộ nhẹ. Hậu quả là bệnh thần kinh ngoại biên ảnh hưởng đến chức năng bàng quang, có thể dẫn đến bí tiểu kéo dài.

Hội chứng Fowler là vấn đề sức khỏe hiếm gặp gây bí tiểu vô căn ở phụ nữ trẻ tuổi. Ca bệnh mắc hội chứng Fowler đầu tiên được ghi nhận vào năm 1988, hội chứng thường xảy ra sau khi phụ nữ bước vào độ tuổi từ 20 – 30 tuổi và thường xuất hiện sau 1 sự kiện sức khỏe có thể kích hoạt cơ chế gây bệnh như 1 ca phẫu thuật hoặc bệnh cấp tính.
Trước khi bắt đầu gây bí tiểu, hầu hết người mắc hội chứng Fowler đều có vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe đường tiết niệu như: dòng chảy nước tiểu không liên tục (tiểu ngắt quãng) hoặc tiểu rắt (xảy ra không thường xuyên).
Hội chứng của Fowler có thể xuất hiện ở tất cả phụ nữ trẻ tuổi, ngay cả khi không mắc bệnh thần kinh, không có tiền sử phẫu thuật, chấn thương hoặc sinh con. Hội chứng của Fowler thường liên quan đến hội chứng buồng trứng đa nang (40% trường hợp mắc bệnh) và sử dụng opioid trong thời gian dài. Những thay đổi nội tiết tố liên quan đến hội chứng buồng trứng đa nang dẫn mất chức năng thư giãn của cơ vòng niệu đạo nữ, khiến cơ thắt hoạt động quá mức trong khi tống xuất nước tiểu.
Điều này làm tăng hoạt động niệu đạo, ức chế tín hiệu bàng quang vào não dẫn đến cảm giác bàng quang kém và giảm đáng kể khả năng co bóp. Những hiệu ứng này tạo ra phản xạ cột sống lưu trữ bàng quang và dẫn đến vô hiệu hóa rối loạn chức năng, thể tích tồn lưu cao và bí tiểu.
Bàng quang thần kinh là tình trạng rối loạn chức năng bàng quang do tổn thương hệ thần kinh. Hệ thần kinh kiểm soát hoạt động tiểu tiện, nên khi bị tổn thương ở não, tủy sống hoặc dây thần kinh ngoại biên, quá trình co bóp và giãn nở của bàng quang bị rối loạn. Khi hệ thần kinh bị tổn thương (do đái tháo đường, chấn thương tủy sống, đột quỵ,…), tín hiệu giữa bàng quang và não bị gián đoạn. Tình trạng này có thể khiến bàng quang không co bóp đủ mạnh để tống nước tiểu ra ngoài, hoặc cơ vòng niệu đạo không mở ra đúng lúc, dẫn đến:
Dược lý do sử dụng thuốc kháng histamin, thuốc kháng cholinergic, thuốc điều trị bàng quang tăng hoạt, thuốc phiện, thuốc chống trầm cảm 3 vòng, thuốc chống co thắt, thuốc chống loạn thần, SSRI, thuốc chủ vận alpha-adrenergic,… trong thời gian dài.

Bí tiểu do tâm lý ở phụ nữ là tình trạng làm trống bàng quang bị ức chế do các yếu tố tâm lý, có thể liên quan đến các vấn đề về cảm xúc và tâm lý khác nhau. Những yếu tố này bao gồm căng thẳng, lo lắng, trầm cảm và chấn thương, đặc biệt là chấn thương tình dục, có thể góp phần vào sự phát triển của các bệnh tâm lý và gây bí tiểu.
Di chứng sau phẫu thuật hoặc nhiễm trùng khiến việc đi tiểu đau đớn trong quá khứ cũng có thể dẫn đến phản ứng có điều kiện gây bí tiểu do cảm giác sợ hãi hoặc lo lắng.
Các nguyên nhân gây bí tiểu ở nữ bao gồm:
Triệu chứng bí tiểu ở nữ giới có thể khác nhau tùy thuộc vào việc bí tiểu cấp tính hay mạn tính. Trong đó:(2)

Các biến chứng của bí tiểu ở nữ nếu không được điều trị kịp thời gồm:
Biến chứng nghiêm trọng khác được biết đến trong thực hành lâm sàng là lợi tiểu sau đặt ống thông. Hiện tượng này được đặc trưng bởi sự bài tiết của lượng lớn muối và nước ngay sau khi người bệnh được đặt ống thông. Đây có thể là phản ứng sinh lý bình thường đối với sự tắc nghẽn, nhưng người bệnh cần được theo dõi chặt chẽ vì tiếp tục bài tiết lượng lớn nước tiểu và có nguy cơ mất nước và bất thường chuyển hóa.
Bí tiểu ở nữ giới nên đi gặp bác sĩ ngay lập tức khi đột nhiên không thể đi tiểu được. Tình trạng này là trường hợp khẩn cấp và có thể đe dọa đến tính mạng người bệnh. Hoặc khi đi gặp bác sĩ ngay khi có các triệu chứng sau:
Chẩn đoán bí tiểu ở nữ giới thường dựa trên các triệu chứng, kết quả kiểm tra thể chất và các phép đo lượng nước tiểu còn lại trong bàng quang khi hoàn thành quá trình tiểu tiện (PVR), chụp CT bàng quang hoặc siêu âm. Các xét nghiệm khác như nội soi bàng quang và đo niệu động lực học có thể được yêu cầu để xác định nguyên nhân gây bí tiểu. Cụ thể:

Cách điều trị bí tiểu ở phụ nữ dựa trên tình trạng và nguyên nhân gây bệnh. Trong đó:
Bí tiểu cấp tính được điều trị tốt nhất với ống thông Foley để dẫn nước tiểu ra ngoài. Ống này được đặt ngắn hạn hoặc không liên tục cho đến khi giải quyết rối loạn gây bí tiểu. Đặt ống thông Foley kịp thời giúp giảm đáng kể nguy cơ suy giảm chức năng thận, tổn thương thận hoặc bàng quang ở những người bị bí tiểu cấp tính.
Ống thông sẽ được đặt vào bàng quang qua niệu đạo để dẫn lưu nước tiểu ra ngoài. Đến khi nguyên nhân cụ thể gây bí tiểu được giải quyết ống thông Foley sẽ được rút ra. Nguyên nhân bí tiểu không được giải quyết triệt để có thể khiến tình trạng này diễn tiến thành bí tiểu mạn tính.
Điều trị ban đầu cho bí tiểu mạn tính ở nữ giới tương tự như bí tiểu cấp tính là cần đặt ống thông Foley niệu đạo. Hướng dẫn của Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) cũng đề xuất xét nghiệm chức năng thận (creatinine trong huyết thanh) và siêu âm thận trong đánh giá ban đầu ở những người được chẩn đoán bí tiểu mạn tính.
Đối với những người bị bí tiểu có nguyên nhân do bệnh như nhiễm khuẩn niệu, nhiễm trùng huyết, thể tích nước tiểu tồn lưu quá lớn, có nguy cơ cao mất muối và khoáng chất (lợi tiểu do ống thông) hoặc có nguy cơ biến chứng thường sẽ được đặt ống thông không liên tục qua niệu đạo.
Ống thông Foley không liên tục, dài hạn là lựa chọn điều trị phù hợp cho nhiều trường hợp bị bí tiểu mạn tính ở nữ giới, vì hầu hết các trường hợp đều tương thích với ống thông và áp lực lưu trữ bàng quang thấp, giúp giảm thiểu nguy cơ suy thận.
Trường hợp người bệnh bị bí tiểu (cấp hoặc mạn tính) có liên quan đến nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng huyết, mất ổn định huyết động, khả năng cao bị bệnh tủy cấp tính hoặc suy thận cấp tính thường vẫn có thể lựa chọn phương pháp này.
Các phương pháp điều trị bảo tồn khác cho bí tiểu ở nữ có thể cân nhắc dựa trên nguyên nhân cụ thể dẫn đến tình trạng này. Ví dụ vật lý trị liệu với phản hồi sinh học như tập kegel, tập luyện với máy tập sàn chậu đã cho thấy hiệu quả trong việc điều trị bí tiểu ở những người mắc bí tiểu do sa sinh dục, trực tràng, sa tạng chậu và vô hiệu hóa rối loạn chức năng.
Các loại thuốc chẹn alpha-adrenergic như Tamsulosin có thể được kê đơn để điều trị chứng bí tiểu mạn tính trong ngắn hạn. Thuốc được dung nạp tốt và không có điều trị thay thế, hiệu quả hơn nào khác. Liệu pháp Tamsulosin trước phẫu thuật cũng đã được chứng minh là giúp giảm khả năng bí tiểu ở nữ sau phẫu thuật.
Đối với sa sinh dục ở nữ có thể được điều trị bằng tập luyện cơ sàn chậu, đặt lưới nâng âm đạo hoặc phẫu thuật để khôi phục giải phẫu ban đầu của các cơ quan vùng chậu. Tùy thuộc mức độ nghiêm trọng của tình trạng này, bác sĩ sẽ có cân nhắc điều trị phù hợp.
Để giảm nguy cơ mắc bí tiểu ở phụ nữ có thể bắt đầu từ việc đơn giản như:
Chẩn đoán và điều trị bí tiểu ở nữ giới tại Đơn vị Niệu nữ, khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, BVĐK Tâm Anh TP.HCM và Đơn vị Tiết niệu, Trung tâm Khám chữa bệnh Tâm Anh Quận 7. Tại đây có đội ngũ bác sĩ là những chuyên gia hàng đầu trong chẩn đoán và điều trị các bệnh đường tiết niệu, trong đó có bí tiểu.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hy vọng với những thông tin bài viết vừa chia sẻ đã giúp bạn hiểu thêm về tình trạng bí tiểu ở nữ, nguyên nhân, triệu chứng, phương pháp chẩn đoán cũng như điều trị bí tiểu ở nữ an toàn, hiệu quả.