Xơ cứng động mạch làm ảnh hưởng đến lưu lượng máu đưa đến các mô và cơ quan trong cơ thể, nguy cơ gây ra các biến chứng nguy hiểm. Do đó, việc tìm hiểu về nguyên nhân, nhận biết các triệu chứng sớm sẽ giúp mỗi người chủ động trong việc phòng ngừa và điều trị hiệu quả bệnh.

Bệnh xơ cứng động mạch là thuật ngữ y học chung chung mô tả các tình trạng bệnh lý của thành động mạch khi chúng dày hơn, cứng hơn và mất tính đàn hồi so với mức bình thường.
Động mạch là mạch máu mang oxy và các chất dinh dưỡng từ tim đến các bộ phận của cơ thể. Động mạch vốn đàn hồi và linh hoạt. Nhưng theo thời gian, cấu trúc thành động mạch có thể thay đổi làm chúng trở nên cứng hơn, tình trạng này gọi là xơ cứng động mạch. Tình trạng xơ cứng động mạch có thể làm cản trở lưu lượng máu và làm gián đoạn hoạt động bình thường của hệ tuần hoàn. (1)
Xơ cứng động mạch là một quá trình xảy ra dần dần trong nhiều năm. Người bệnh có thể không có triệu chứng nào trong một thời gian dài, cho đến khi tình trạng xơ cứng động mạch diễn tiến nặng dẫn đến biến chứng nguy hiểm.
Xơ cứng động mạch và xơ vữa động mạch thường bị nhầm lẫn. Xơ cứng động mạch là tình trạng mạch máu trở nên dày và cứng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong khi đó, xơ vữa động mạch chủ yếu là do sự tích tụ mảng bám cholesterol và các chất khác trong thành động mạch, làm hẹp mạch máu và cản trở lưu lượng máu. Xơ vữa động mạch là một dạng đặc biệt của xơ cứng động mạch.
Có ba loại xơ cứng động mạch chính, bao gồm: xỡ vữa động mạch, xơ cứng tiểu động mạch và xơ cứng vôi hóa áo giữa (xơ cứng động mạch Mönckeberg).
Xơ vữa động mạch là quá trình sự lắng đọng dần dần của các hạt LDL qua lớp nội mạc mạch máu (khi bị tổn thương, suy giảm chức năng) vào thành mạch. Các tế bào đơn nhân thâm nhiễm vào thành mạch (do tổn thương nội mạc và các yếu tố viêm, hóa chất trung gian), hoạt hóa biến thành đại thực bào, tiếp theo đại thực bào sẽ ăn các hạt LDL biến thành các tế bào bọt. Các tế bào bọt này lắng đọng trong thành mạch và lại tiếp tục hoạt hóa thúc đẩy quá trình thực bào – lắng đọng tạo thành các mảng xơ vữa.
Xơ vữa động mạch thường thấy ở các động mạch vừa và lớn, rõ nhất ở các mạch máu có tốc độ dòng chảy cao (mạch não, mạch vành, mạch thận, mạch chậu), đặc biệt vị trí gập góc. Hậu quả là làm thành động mạch bị mất khả năng đàn hồi, đồng thời lòng động mạch bị hẹp dần rồi tắc nghẽn, gây cản trở hoặc tắc nghẽn lưu thông của động mạch. Những yếu tố nguy cơ góp phần hình thành mảng xơ vữa động mạch bao gồm: rối loạn lipid máu, béo phì, hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp.
Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính dẫn đến đột quỵ não và nhồi máu cơ tim hay cơn đau thắt ngực. Xơ vữa động mạch xảy ra trong các mạch máu của thận có thể gây hẹp động mạch thận, hẹp tại động mạch cảnh, động mạch chi (đặc biệt là các mạch máu ở chi dưới)… gọi là bệnh động mạch ngoại biên. (2)
Xơ cứng tiểu động mạch có tác động đến các động mạch nhỏ hơn là tiểu động mạch. Những tiểu động mạch này là nơi nối giữa các động mạch lớn hơn và mao mạch, có vai trò quan trọng trọng việc kiểm soát huyết áp hoặc mức độ di chuyển của máu trong cơ thể. Xơ cứng tiểu động mạch thường gặp trong tăng huyết áp và đái tháo đường.
Xơ cứng tiểu động mạch do tinh thể Hyaline: Dòng máu chảy qua mạch với áp suất cao làm các protein trôi nổi trong máu dính vào thành mạch máu. Về lâu dài, có nhiều protein bám vào thành mạch làm cho mạch máu trở nên cứng và dày lên. Thành mạch dày làm cho lòng mạch máu hẹp đi khiến giảm lưu lượng máu đến các cơ quan được cung cấp máu bởi các mạch này khiến chúng bị thiếu oxy. Điều này thường thấy ở thận, gây ra sẹo tiểu cầu thận. Sự gây sẹo ở càng nhiều tiểu cầu thận sẽ dẫn đến suy thận mạn tính.
Người bị đái tháo đường có thể mắc xơ cứng tiểu động mạch do tinh thể Hyaline thông qua một cơ chế khác. Tiếp xúc trực tiếp với lượng đường trong máu cao có thể làm nội mạc mạch máu bị tổn thương, sau đó gây ảnh hưởng đến màng đáy mạch máu.
Xơ cứng tiểu động mạch tăng (sinh) sản do sự gia tăng sự sinh sản làm dày thêm thành mạch máu, xảy ra khi một người có huyết áp rất cao. Các mạch máu thích nghi với tình trạng tăng huyết áp nặng bằng cách tăng sinh lớp cơ trơn và màng đáy, làm mạch máu cứng và mạnh hơn. Nhược điểm là làm lòng mạch máu trở nên hẹp hơn và giảm lưu lượng, gây ra thiếu máu cục bộ tại các cơ quan mà mạch máu này chi phối. Cũng như xơ cứng tiểu động mạch do tinh thể Hyaline, tổn thương gây ra thường ở thận.
Bệnh xơ cứng động mạch Mönckeberg hay còn gọi là xơ cứng vôi hóa áo giữa, là một tình trạng hiếm gặp hơn, hình thành do sự tích tụ của các tính thể calcium ở lớp áo giữa của động mạch. Tình trạng này làm thành mạch máu cứng hơn nhưng không ảnh hưởng đến đường kính lòng mạch nên lưu lượng máu không bị ảnh hưởng. Do đó, chúng thường không gây ra triệu chứng, thường được phát hiện tình cờ khi đang chẩn đoán một bệnh khác ví dụ thông qua chụp phim X-quang, CT.
Những người trên 65 tuổi thường sẽ bị vôi hóa ở mức độ nhất định. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở những người mắc bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh thận mạn tính, bệnh lupus, chứng thừa vitamin D, calci.

Các yếu tố nguy cơ gây xơ cứng động mạch có thể khác nhau tùy theo loại bệnh: xơ vữa động mạch, xơ cứng tiểu động mạch hoặc xơ cứng động mạch Mönckeberg, bao gồm:
Xơ cứng động mạch không hề có triệu chứng cho đến khi sự tắc nghẽn trở nên trầm trọng. Một khi điều này xảy ra các triệu chứng bắt đầu trở nên rõ ràng, thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạch trong một số trường hợp cấp tính.
Triệu chứng phụ thuộc vị trí động mạch bị xơ cứng:
Xơ cứng động mạch làm thành mạch máu kém bền và có thể gây hẹp lòng mạch máu, dẫn đến mạch máu dễ bị giãn phình, lóc tách hoặc tắc nghẽn dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ quan do mạch máu đó chi phối. Các biến chứng thường gặp có thể kể đến như:
Phình động mạch chủ, lóc tách động mạch chủ, huyết khối trong thành, loét xuyên thành động mạch chủ. Trong một số trường hợp yêu cầu có các can thiệp hoặc phẫu thuật để đảm bảo tránh vỡ động mạch chủ.
Xơ vữa động mạch vành có thể dẫn đến cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim thậm chí đột tử.
Hẹp tắc động mạch cảnh có thể gây ra nhồi máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua.
Vị trí động mạch bị hẹp tại cánh tay hoặc chân có thể khiến lưu lượng máu ở cánh tay và chân bị giảm đi, khiến người bệnh ít nhạy cảm hơn với nóng và lạnh, tăng nguy cơ bị bỏng hoặc tê cóng. Thậm chí tình trạng thiếu máu đến cánh tay hoặc chân có thể gây hoại tử.
Trường hợp xơ cứng xảy ra tại hệ thống động mạch thận có thể dẫn đến suy thận mạn tính, trường hợp suy thận nặng có thể cần phải can thiệp lọc máu chu kỳ.
Khi các động mạch não bị xơ cứng hay hẹp tắc có thể gây ra nhồi máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua. Biểu hiện là giảm tri giác, lơ mơ, nói ngọng, méo miệng, rối loạn cảm giác, yếu liệt nửa người hoặc đại – tiểu tiện không tự chủ.
Đây là một biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào trong cơ thể. Nếu túi phình bị vỡ ra, có thể gây chảy máu trong, đe dọa đến tính mạng người bệnh, đặc biệt ở vị trí động mạch chủ.

Khi khám sức khỏe, bác sĩ có thể sàng lọc các dấu hiệu ban đầu của bệnh xơ cứng động mạch thông qua khai thác về tiền sử, triệu chứng lâm sàng và khám hệ động mạch. Thăm khám thường gặp nhất là bắt mạch sau chỗ nghẽn tắc yếu hoặc mất mạch, nghe có tiếng thổi thì tâm thu.

Điều trị bệnh xơ cứng động mạch bao gồm chế độ ăn uống khoa học, tăng cường vận động kết hợp với sử dụng thuốc để kiểm soát tình trạng xơ cứng. Trường hợp người bệnh có triệu chứng, mạch máu bị phình hay tắc nghẽn, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ cá thể hóa để ngăn ngừa biến chứng vỡ hoặc hình thành cục máu đông và giảm bớt triệu chứng cho người bệnh.
Với bệnh nhân bị xơ cứng động mạch, việc áp dụng một chế độ ăn uống lành mạnh là rất quan trọng, góp phần hạn chế nguy cơ phát triển của bệnh. Nên ưu tiên ăn nhiều trái cây tươi, rau xanh, các loại củ quả, ngũ cốc nguyên hạt, cá. Đồng thời, cần chú ý hạn chế nạp những thực phẩm có chứa chất béo không lành mạnh, đồ ăn được chế biến nhiều đường, muối. Bên cạnh đó, bệnh nhân nên bỏ thuốc lá, hạn chế sử dụng rượu, bia, cà phê, nước ngọt có ga…
Về vận động, nên duy trì thói quen vận động đều đặn từ 3-5 buổi mỗi tuần và khoảng 30 phút cho mỗi buổi tập. Người bệnh nên chọn các bài tập phù hợp với tình trạng sức khỏe và vận động ở mức độ vừa sức.
Về chế độ nghỉ ngơi, nên có sự cân bằng trong công việc và thời gian nghỉ ngơi. Ngủ đủ giấc mỗi ngày và có chất lượng ngủ tốt. Tránh căng thẳng quá mức.
Bên cạnh đó, người bệnh nên khám sức khỏe thường xuyên, kiểm soát các bệnh nền tốt như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, bệnh thận mạn…
Các statin là loại thuốc chính được dùng để giảm cholesterol và chống xơ cứng động mạch, giúp giảm 20% tỷ lệ tử vong do tim mạch khi dùng theo khuyến cáo. Chúng ngăn chặn enzyme HMG-CoA reductase trong gan, cản trở quá trình sản xuất cholesterol và hạn chế hình thành mảng xơ vữa trong cơ thể.
Thuốc kháng kết tập tiểu cầu (Aspirin, Clopidogrel…) để hạn chế hình thành cục máu đông thiếu máu cục bộ các cơ quan như nhồi máu cơ tim, nhồi máu não…
Thuốc hạ áp ưu tiên nhóm ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể khi bệnh nhân đã có biến chứng xơ vữa mạch máu. Ngày ra có thể sử dụng các nhóm thuốc khác như chẹn kênh canxi, chẹn beta, lợi tiểu… để kiểm soát tốt huyết áp.
Ngoài ra có thể dùng các thuốc khác nhằm giảm triệu chứng cho người bệnh. Ví dụ thuốc nhóm nitrat để giảm đau ngực ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành, cilostazol để cải thiện quãng đường đi bộ ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch chi dưới.
Các phương pháp điều trị bằng phẫu thuật cho bệnh nhân bị xơ cứng động mạch bao gồm:

Để phòng ngừa bệnh xơ cứng động mạch, có thể áp dụng một số biện pháp sau:
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ chuyên khoa hàng đầu trong lĩnh vực tim mạch tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh xơ cứng động mạch có thể được phòng ngừa thông qua chế độ ăn uống khoa học và lối sống lành mạnh. Người bệnh đang trong quá trình điều trị nên có sự kết hợp giữa dùng thuốc và điều chỉnh về lối sống để có được kết quả tốt.