Di căn xương thường xảy ra với ung thư tuyến giáp thể nang và thể tủy, do đó người mắc các loại ung thư này cần được theo dõi chặt chẽ hơn. Xương cột sống và xương chậu là các vị trí di căn thường gặp (1). Dưới đây là các thông tin về tình trạng ung thư tuyến giáp di căn xương, dấu hiệu cảnh báo và phương pháp điều trị.

Di căn xương thường diễn tiến âm thầm. Người bệnh có thể có các dấu hiệu như:
Đau xương là triệu chứng phổ biến nhất. Người bệnh thường đau âm ỉ, tăng dần theo thời gian và không giảm khi nghỉ ngơi. Nguyên nhân do tổn thương cơ học hoặc do giải phóng các cytokine gây kích ứng màng xương và kích thích các thụ thể đau. Các vị trí đau phổ biến thường là cột sống, xương chậu, xương sườn, xương dài (đùi và cánh tay). (2)
Người bệnh có thể tăng nguy cơ gãy xương do tế bào ung thư phá hủy cấu trúc xương, khiến xương yếu và dễ gãy. Có thể gãy xương khi vận động nhẹ hoặc sau chấn thương nhẹ.
Khi ung thư di căn đến cột sống, khối u có thể chèn ép tủy sống và gây đau lưng, tê bì, yếu cơ, thậm chí liệt chi dưới hoặc mất kiểm soát tiểu tiện, đại tiện.
Người bệnh có thể thấy có khối sưng nổi trên da, cứng, ít di động. Một số trường hợp sờ thấy nóng và đau tại vùng tổn thương.
Khi tế bào ung thư phá hủy nhiều mô xương, canxi được giải phóng vào máu, gây mệt mỏi, buồn nôn, táo bón, khát và tiểu nhiều, lú lẫn, rối loạn nhịp tim. Đây là biểu hiện lâm sàng ít phổ biến, cảnh báo tổn thương xương lan rộng.

Điều trị ung thư giáp di căn xương đòi hỏi đa mô thức, kết hợp nhiều phương pháp nhằm giảm nhẹ triệu chứng, kiểm soát khối u, ngăn ngừa biến chứng, bảo tồn/phục hồi cấu trúc xương và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Tùy vào loại ung thư và mức độ di căn, bác sĩ có thể lựa chọn các phương pháp điều trị như:
Người bệnh được chỉ định dùng thuốc giảm đau toàn thân thuần túy, thuốc kháng viêm toàn thân, thuốc nhắm vào cơn đau thần kinh và các phương pháp giảm đau tại chỗ. Ngoài ra, người bệnh được tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng… để duy trì khả năng vận động, giảm phụ thuộc và nâng cao chất lượng sống.
Phương pháp này được chỉ định khi người bệnh có nguy cơ gãy xương, đau dai dẳng, mất ổn định cột sống (có hoặc không kèm theo chèn ép cột sống và tổn thương thần kinh) và/hoặc đau không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Sau phẫu thuật, người bệnh có thể được chỉ định xạ trị để nâng cao hiệu quả điều trị.
Xạ trị chùm tia ngoài (EBRT) được chỉ định cho người bệnh đau xương kháng trị, chèn ép tủy sống hoặc không đáp ứng với iod phóng xạ; giúp giảm đau, giảm kích thước khối u và ổn định tổn thương xương. Xạ trị định vị thân (SBRT) có thể được áp dụng, đặc biệt là với di căn cột sống.
Nghiên cứu thực hiện năm 2019 cho thấy điều trị bằng xạ trị chùm tia ngoài có thể cải thiện đáng kể tiên lượng sống cho người bệnh. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 59% và thời gian sống trung bình là 92 tháng. (3)
Phương pháp này chỉ áp dụng cho người bệnh ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, vì các tế bào này vẫn còn khả năng hấp thu iod. Iod phóng xạ giúp tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật và điều trị các ổ di căn xương có hấp thu iod. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ loại bỏ các ổ di căn nhỏ, hiệu quả với tổn thương xương lớn, xơ hóa hoặc ít bắt iod thường kém hơn.

Bác sĩ có thể chỉ định người bệnh điều trị di căn xương bằng đốt sóng cao tần (RFA) bằng nhiệt độ thấp, nhằm tăng/giảm nhiệt độ bên trong khối u và giúp tiêu diệt tế bào ác tính. Thủ thuật này kết hợp với phẫu thuật hoặc thuyên tắc động mạch có thể giúp giảm nguy cơ gãy xương thứ phát.
Thuyên tắc động mạch có thể giúp giảm đau và kiểm soát sự phát triển của di căn xương, đặc biệt là ở những tổn thương lớn không thể cắt bỏ. Phương pháp này nhằm làm tắc nghẽn dòng máu nuôi khối u di căn, gây thiếu máu cục bộ ở khối u, giúp giảm kích thước u. Kỹ thuật này có thể kết hợp với các phương pháp điều trị khác, nhất là phẫu thuật, nhằm giảm nguy cơ chảy máu khi phẫu thuật.
Ngoài ra, người bệnh có thể được chỉ định sử dụng thuốc chống hủy xương để bảo vệ cấu trúc xương, giảm nguy cơ gãy xương và giảm đau. Đồng thời điều trị nội tiết hỗ trợ bằng hormone tuyến giáp tổng hợp để ngăn tế bào ung thư tuyến giáp phát triển.
Tiên lượng của người bệnh ung thư tuyến giáp di căn xương tùy thuộc vào loại ung thư, mức độ lan rộng, đáp ứng điều trị và tình trạng sức khỏe toàn thân.
Tuy nhiên, với di căn xương, tiên lượng thường kém, tỷ lệ sống còn thấp hơn so với di căn ở các vị trí xa khác. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm và 10 năm kể từ khi chẩn đoán di căn xương ở người bệnh K tuyến giáp thể biệt hóa lần lượt là 61% và 27%. Với ung thư kém biệt hóa, tỷ lệ sống còn sau 10 năm khoảng 15%.

Hiện chưa có biện pháp phòng ngừa tuyệt đối ung thư tuyến giáp di căn xương. Tuy nhiên, phát hiện sớm, điều trị tích cực và theo dõi định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ di căn hoặc tái phát bệnh.
Chẩn đoán và điều trị sớm giúp loại bỏ tế bào ác tính trước khi chúng lan ra ngoài tuyến giáp.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Ung thư tuyến giáp di căn xương là tình trạng xương trở thành vị trí di căn phổ biến thứ 2 ở bệnh nhân ung thư, làm tăng nguy cơ gãy xương và chèn ép tủy sống, gây đau, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tiên lượng sống của người bệnh. Do đó, người bệnh cần đến bệnh viện khám sức khỏe định kỳ, kiểm tra chức năng tuyến giáp thường xuyên để kịp thời phát hiện các bất thường sức khỏe và điều trị sớm.