Viêm phổi kẽ ở trẻ em là bệnh lý nguy hiểm ở trẻ, gây tổn thương mô kẽ phổi và có liên quan tới nhiều yếu tố từ môi trường xung quanh cho tới các bệnh lý truyền nhiễm. Bệnh có thể dẫn tới xơ phổi và có nguy cơ tái phát sau điều trị.

Viêm phổi kẽ ở trẻ em là một vấn đề ở phổi, hoặc trong đường thở (ống thở), phế nang (túi khí) và / hoặc trong mô kẽ (mô bao quanh phế nang). ChILD có thể gây ra nồng độ oxy thấp, chức năng phổi bất thường, khó thở khác nhau và khó theo kịp việc tập thể dục. Các triệu chứng của bệnh phổi kẽ ở trẻ em bắt đầu ở độ tuổi khác nhau. Một số loại bắt đầu ở trẻ em, một số bắt đầu khi trẻ lớn hơn.
Một số loại chILD do di truyền trong gia đình. Bệnh phổi kẽ không phải là một loại bệnh mà là một nhóm rối loạn bao gồm trên 200 bệnh với đặc trưng là gây ra “sẹo” (xơ hóa) ở phế nang và các mô kẽ – nằm giữa mạch máu và phế nang/ màng phế nang.
Viêm phổi mô kẽ ở trẻ em là bệnh lý hiếm gặp ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên, chủ yếu liên quan tới phế nang và mô quanh phế nang. Người lớn cũng có thể mắc phải viêm phổi kẽ, nhưng nguyên nhân và kết quả thường khác với trẻ nhỏ. (1)

Có nhiều nguyên nhân gây ra viêm phổi kẽ ở trẻ em, trong đó tập trung theo các yếu tố như sau:
Bệnh viêm phổi kẽ không có tính di truyền nhưng các yếu tố ảnh hưởng tới nguy cơ phát bệnh lại có thể được di truyền qua gen như viêm đa cơ, các rối loạn gây ra vấn đề về dịch phổi, bệnh mô liên kết hỗn hợp hoặc viêm khớp dạng thấp. (2)
Hệ miễn dịch kém cũng là nguyên nhân gây bệnh thường gặp. Nếu trẻ có mắc những bệnh liên quan đến hệ miễn dịch như xơ cứng bì, bệnh mô liên kết hỗn hợp hay viêm khớp dạng thấp thì ba mẹ cũng cần chú ý hơn đến nguy cơ viêm phổi kẽ ở trẻ em.
Các bệnh tự miễn – xảy ra khi bộ máy miễn dịch không phân biệt được tự kháng nguyên và kháng nguyên bên ngoài – như viêm đa khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm đa cơ, da cơ… có liên quan tới nguyên nhân gây bệnh.
Các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn/vi rút/ký sinh trùng/nấm gây ra như cúm, lao, đậu mùa, sốt rét, tay chân miệng,… là yếu tố dễ gây suy giảm hệ miễn dịch ở trẻ. Điều này cũng có thể được xem là nguyên nhân gián tiếp dẫn tới việc trẻ mắc phải viêm phổi mô kẽ cũng như nhiều bệnh lý khác.
Tình trạng dị dạng phổi bẩm sinh như nang phế quản, dị dạng mạch máu phổi, bệnh phổi biệt lập, khí phế thũng thùy phổi khổng lồ,… khiến nhiều trẻ bị suy hô hấp ngay khi mới sinh. Các dị tật như thể này khiến trẻ có nguy cơ cao bị viêm phổi tái đi tái lại nhiều lần dẫn tới biến chứng nhiễm trùng huyết khi bệnh trở nặng nếu không kịp tầm soát phát hiện và điều trị sớm.
Trẻ em thường dễ nghịch ngợm, dẫn tới việc hút/hít các dị vật vào phổi. Dị vật đường thở nếu không được lấy ra sớm cũng trở thành nguyên nhân dẫn tới viêm phổi nói chung và tình trạng viêm phổi kẽ ở trẻ em nói riêng. Bên cạnh có còn có các tình trạng khác như áp xe phổi, xẹp thùy phổi, gây tổn thương các mạch máu,…
Phương pháp xạ trị khi bị ung thư cũng là một trong các yếu tố khiến người bệnh có nguy cơ cao mắc viêm phổi kẽ. Ngoài ra, một số thuốc dùng điều trị ung thư và kháng sinh nitrofurantoin cũng được xem là nguyên nhân gây bệnh.
Nếu trẻ phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường nhiều khói bụi, khí độc, bụi hữu cơ, vô cơ hay có chất phóng xạ… thì viêm phổi mô kẽ ở trẻ em cũng có nguy cơ cao hơn. Bệnh có nguyên nhân từ môi trường còn có tên gọi khác là “viêm phổi tăng cảm hoặc viêm phổi quá mẫn”.
Phẫu thuật nói riêng (ví dụ như ghép tủy, ghép phổi,…) và các vấn đề liên quan đến can thiệp điều trị nói chung khác có thể gây ra các rối loạn và tổn thương ở hệ miễn dịch.
Các triệu chứng ban đầu của bệnh viêm phổi kẽ trẻ em có thể mơ hồ, không rõ ràng; theo thời gian dần trở nên nghiêm trọng hơn. Một số biểu hiện cảnh báo ba mẹ cần lưu ý bao gồm:

Làm sao để biết trẻ có đang bị viêm phổi mô kẽ hay không? Để chẩn đoán bệnh chính xác sẽ cần đến một số phương pháp như sau:
Chụp X-quang ngực thông thường có thể cung cấp hình ảnh những bất thường trong kẽ phổi. Tuy nhiên để xác định liều trẻ có đang mắc bệnh viêm phổi kẽ không thì sẽ cần chụp cắt lớp vi tính phổi có độ phân giải cao (HRCT) để bác sĩ có thể nhìn thấy rõ ràng hơn những thay đổi trong mô phổi.
Kiểm tra chức năng phổi hay còn gọi là thăm dò chức năng hô hấp là phương pháp nhằm đánh giá mức độ nghiêm trọng của các vấn đề phổi qua việc đánh giá các chỉ số về đo dung tích sống gắng sức, thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên. Đây cũng là phương pháp đánh giá khả năng đáp ứng thuốc trong quá trình điều trị; thường đo với tần suất 3-6 tháng một lần.
Một số loại xét nghiệm máu có thể hỗ trợ chẩn đoán bệnh viêm phổi kẽ ở trẻ em. Xét nghiệm công thức máu toàn phần xác định số lượng bạch cầu có tăng hay không? Điều này giúp bác sĩ có phác đồ điều trị, lựa chọn kháng sinh hiệu quả hơn. Tuy nhiên xét nghiệm này cũng không hoàn toàn chính xác.
Nuôi cấy vi khuẩn đường hô hấp – giúp định hướng điều trị chính xác hơn.
Rửa phế quản phế nang cũng có thể được áp dụng để lấy một phần mô phổi. Đây là phương pháp cần gây mê và là thủ thuật chẩn đoán ngoại trú.
Có các lựa chọn khác nhau khi cần lấy sinh thiết phổi như nội soi phế quản để lấy một mảnh mô phổi rất nhỏ hay sinh thiết lạnh (để lấy mô phổi kích thước lớn hơn). Ngoài ra người bệnh cũng có thể lấy mô phổi bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực.
Ngoài ra do viêm phổi mô kẽ ở trẻ em có tính di truyền nên ngoài các phương pháp chẩn đoán ở trên, có trường hợp người bệnh có thể cần thêm xét nghiệm di truyền sau khi xem xét yếu tố bệnh sử. Việc đo chiều dài telomere có khả năng đánh giá sự phát triển của bệnh lý xơ phổi gia đình.
>>>Tham khảo thêm: Viêm phổi kẽ không đặc hiệu ở trẻ em: Nguyên nhân và cách điều trị
Tùy thuộc vào căn nguyên của bệnh, có các loại thuốc điều trị khác nhau. Một số loại thuốc thường gặp có thể kể đến như thuốc ức chế miễn dịch, thuốc chống xơ hóa (chống sẹo), thuốc chống trào ngược,…
Tình trạng mô sẹo trong phổi khi mắc viêm phổi kẽ khiến quá trình vận chuyển Oxy và loại bỏ khí CO2 bị chậm lại, dẫn tới tình trạng khó thở và hạn chế khả năng hoạt động của trẻ. Chỉ số Oxy bình thường khi đo ở đầu ngón tay là 96-98%, do đó nếu dưới mức này, trẻ sẽ cần liệu pháp Oxy trong điều trị để giúp trẻ thở tốt hơn và giảm áp lực ở tim. (3)
Xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học, giàu dưỡng chất, kết hợp với lối sống lành mạnh, tránh xa môi trường ô nhiễm cũng như kết hợp điều trị các bệnh lý có liên quan như lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp… cũng góp phần rút ngắn thời gian điều trị, đẩy nhanh quá trình hồi phục.
Các bài tập và phục hồi chức năng phổi mang đến nhiều lợi ích trong điều trị. Người bệnh nên duy trì các bài tập thở và vận động nhẹ nhàng. Điều này vừa giúp hồi phục dần chức năng của phổi vừa mang tính giải tỏa tinh than.
Máy thở thường sử dụng cho các trường hợp bệnh lý nghiêm trọng, chức năng phổi bị ảnh hưởng nặng. Một điều cần lưu ý là tỷ lệ tử vong do viêm phổi liên quan tới thở máy không chỉ bắt nguồn hoàn toàn từ viêm phổi mà còn có liên quan đến các bệnh đi kèm của bệnh nhân.
Ở mức độ bệnh gây ra nhiều chuyển biến xấu, bệnh nhân có thể nhận được chỉ định phẫu thuật ghép phổi.

Nâng cao hệ miễn dịch, duy trì lối sống khoa học là những biện pháp phòng ngừa viêm phổi kẽ ở trẻ em hữu hiệu. Do đó, ba mẹ nên cùng trẻ thực hiện một số điều cơ bản như sau:
Viêm phổi mô kẽ ở trẻ em tuy không phải là bệnh lý viêm phổi thường gặp nhưng ba mẹ vẫn nên đưa trẻ đến các trung tâm/cơ sở y tế uy tín để kiểm tra, thăm khám. Yếu tố quan trọng khi lựa chọn địa điểm điều trị cho trẻ cần là đội ngũ y bác sĩ chuyên môn cao, kinh nghiệm lâu năm Bên cạnh đó là trang thiết bị hiện đại để đưa ra các kết quả chẩn đoán chính xác cũng như đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả theo đúng phác đồ.
Hầu hết các bệnh viện Nhi có quy mô thành phố, trung ương đều đáp ứng được các yếu tố này. Tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, không chỉ sở hữu những chuyên gia y tế nổi tiếng và hệ thống máy móc vượt trội mà còn mang đến cho trẻ cảm giác thoải mái, vui vẻ, thư thả với chất lượng dịch vụ khách sạn 5 sao.
Bệnh phổi mô kẽ ở trẻ em là bệnh có thể điều trị. Để tăng hiệu quả điều trị, cần phát hiện sớm và thăm khám kịp thời. Bên cạnh đó là sử dụng thuốc đúng liều, đủ liều và hạn chế thấp nhất việc tiếp xúc các yếu tố gây bệnh. Bệnh có nguy cơ tái phát sau điều tri, do đó việc phòng ngừa bệnh là điều cần đặc biệt chú ý.
Câu trả lời là có. Tuy hiếm gặp nhưng vẫn có nguy cơ gây ra các biến chứng nguy hiểm như xơ phổi, tràn dịch màng phổi cùng nhiều di chứng tổn thương đến phổi khác.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Viêm phổi kẽ ở trẻ em có ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng hô hấp ở trẻ và ẩn chứa nhiều nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. Bệnh không thể tự khỏi và có khả năng chuyển nặng thành xơ phổi nên tốt nhất khi phát hiện các dấu hiệu cảnh báo, cần cho trẻ đi thăm khám để có thể điều trị kịp thời.