Mắc đồng thời viêm gan virus B và viêm gan virus D hay viêm gan virus B đồng nhiễm viêm gan virus D có nguy cơ cao bị viêm gan cấp, xơ gan, ung thư gan hơn so với người chỉ mắc viêm gan virus B. Người mắc viêm gan virus B mạn tính nên được tầm soát viêm gan virus D để phát hiện các trường hợp đồng mắc viêm gan virus B và viêm gan virus D, từ đó phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm, bảo vệ chức năng gan và nâng cao hiệu quả quản lý bệnh.

Virus viêm gan D (HDV) là virus RNA cần có kháng nguyên bề mặt (HBsAg) của virus viêm gan B để tạo virus hoàn chỉnh có thể gây nhiễm. Vì vậy, HDV chỉ có thể gây nhiễm ở người có HBsAg dương tính dưới hai hình thức là đồng nhiễm với virus viêm gan B (HBV) và bội nhiễm HDV trên bệnh nhân có nhiễm HBV mạn tính.
Đồng nhiễm HDV và HBV là trường hợp người bệnh nhiễm cùng lúc 2 virus viêm gan HBV và HDV. Người bệnh thường có biểu hiện viêm gan cấp với các triệu chứng tương tự với các trường hợp nhiễm HBV cấp tính khác. Tuy nhiên, nguy cơ suy gan cấp cao hơn so với các trường hợp chỉ nhiễm HBV cấp. Phần lớn các trường hợp sẽ vượt qua giai đoạn viêm gan cấp và thanh thải được cả 2 loại virus này trong máu, một phần nhỏ các bệnh nhân sẽ chuyển sang nhiễm mạn tính cả HBV và HDV làm tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan. (1)

Bội nhiễm HDV trên người bệnh viêm gan virus B mạn tính là trường hợp bệnh nhân đã có viêm gan virus B mạn nhiễm thêm virus viêm gan D. Trường hợp này thường có biểu hiện của một đợt viêm gan cấp tính ở bệnh nhân có viêm gan virus B mạn. Khoảng trên 90% các trường hợp bội nhiễm HDV sẽ chuyển sang nhiễm mạn tính cả HDV và HBV. Khi có nhiễm HDV mạn tính, bệnh lý gan mạn tính của bệnh nhân trước đó có xu hướng tiến triển xấu hơn, tiến triển nhanh tới xơ gan và tăng nguy cơ ung thư gan cũng như tử vong do bệnh lý gan so với các trường hợp chỉ mắc viêm gan virus B mạn tính.
Con đường lây truyền viêm gan virus B và viêm gan virus D tương tự nhau. Người bệnh có thể đồng thời mắc cả 2 loại virus hoặc nhiễm virus viêm gan D trên nền viêm gan virus B mạn tính theo một số đường lây truyền: (2)
Virus có thể lây khi tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch cơ thể chứa virus viêm gan của người bệnh trong trường hợp:
Viêm gan virus B đồng nhiễm viêm gan virus D trong trương hợp quan hệ tình dục không an toàn với người nhiễm HBV/HDV. Virus có thể lây truyền qua đường sinh dục và các vết xước trên niêm mạc. Nguy cơ lây truyền cao hơn nếu quan hệ tình dục không an toàn, không sử dụng bao cao su hoặc có nhiều bạn tình.
Phụ nữ mang thai mắc viêm gan virus B có thể truyền virus cho con trong quá trình mang thai, khi sinh hoặc sau sinh nếu không được dự phòng kịp thời. Trẻ sinh ra từ mẹ mắc viêm gan virus B nếu không được tiêm vắc xin ngay sau sinh có nguy cơ cao nhiễm virus. Việc trẻ nhiễm virus viêm gan B cũng làm tăng nguy cơ nhiễm virus viêm gan D trong tương lai.
Các đối tượng nguy cơ cao nhiễm HDV:
Các triệu chứng viêm gan virus B đồng nhiễm viêm gan virus D có sự khác nhau ở từng kiểu hình:
Đồng nhiễm viêm gan virus B (HBV) và viêm gan virus D (HDV) có thể dẫn đến tình trạng viêm gan từ nhẹ đến nặng với các dấu hiệu và triệu chứng khó phân biệt với các loại viêm gan virus cấp tính khác.
Các triệu chứng đồng nhiễm HBV và HDV thường xuất hiện sau 3-7 tuần từ khi phơi nhiễm, bao gồm: sốt, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, nước tiểu sậm màu, vàng da. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp sẽ hồi phục hoàn toàn, một số ít trường hợp (< 5%) chuyển sang viêm gan virus D mạn.

Trường hợp bội nhiễm HDV trên nền viêm gan virus B mạn tính có thể có biểu hiện lâm sàng là một đợt viêm gan cấp ở bệnh nhân có viêm gan virus B mạn (có thể đã được chẩn đoán trước đó hoặc thậm chí chưa được chẩn đoán). Phần lớn các trường hợp bội nhiễm HDV sẽ chuyển sang nhiễm mạn tính (được định nghĩa là HDV tồn tại trong máu trên 6 tháng).
Nhiễm HDV mạn tính thúc đẩy bệnh tiến triển tới xơ gan, ung thư gan và tử vong do các biến chứng liên quan đến gan cao hơn so với người bệnh chỉ nhiễm HBV.
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Nghiên cứu về gan Châu Âu (EASL):
Khẳng định đang nhiễm HDV: xét nghiệm HDV RNA với các trường hợp có kết quả anti-HDV dương tính. Các trường hợp có HDV RNA dương tính được xác định là đang nhiễm HDV, nếu HDV RNA âm tính: có thể là trường hợp đã từng nhiễm HDV trước đó.
Ngoài các xét nghiệm giúp phát hiện virus viêm gan D trên nền bệnh viêm gan virus B, người bệnh có thể được chỉ định thực hiện các xét nghiệm đánh giá về tình trạng viêm gan virus B như: HBV DNA, HBeAg, HbeAb, anti-HBc IgM,…
Hiện nay, đã có các thuốc kháng virus viêm gan D được phê duyệt điều trị. Tuy nhiên, việc chỉ định điều trị cũng như lựa chọn phác đồ điều trị cần được sự tư vấn và chỉ định từ bác sĩ. Một số loại thuốc điển hình hiện nay gồm:
Bên cạnh việc dùng thuốc điều trị viêm gan virus D, cần theo dõi và chỉ định điều trị thuốc kháng virus viêm gan B phù hợp.
Người bệnh đồng mắc viêm gan virus B và viêm gan virus D cần được tư vấn về tình trạng bệnh, các nguy cơ diễn biến bệnh (xơ gan, u gan, viêm gan cấp, suy gan…), kế hoạch tái khám theo dõi định kỳ để phát hiện sớm biến chứng.

Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội và Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM đang triển khai miễn phí xét nghiệm sàng lọc virus viêm gan D ở người bệnh mắc viêm gan virus B mạn tính. Xét nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn được phê duyệt.
Nếu bạn hoặc người thân muốn tìm hiểu thêm và đăng ký tham gia, vui lòng điền thông tin tại đây hoặc liên hệ hotline: 0287 102 6789 (TP.HCM) và 0247 106 6858 (Hà Nội) hoặc qua email [email protected].
Để đặt lịch thăm khám và điều trị tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Viêm gan virus B đồng nhiễm viêm gan virus D làm tăng nguy cơ xơ gan, ung thư gan, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời, tiêm phòng vắc xin viêm gan B đóng vai trò quan trọng giúp hạn chế sự lây lan và đồng nhiễm HBV/HDV, giảm thiểu gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng.