Ông Hải, 67 tuổi, đau ngực âm ỉ, khám phát hiện ba nhánh mạch vành xơ cứng và hẹp nặng, được đặt stent thế hệ mới nhất kết hợp kỹ thuật IVL, giúp giảm rủi ro trong và sau can thiệp.
GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, kết quả chụp CT mạch vành cho thấy 3 nhánh mạch máu chính nuôi tim của bệnh nhân gồm động mạch liên thất trước và động mạch mũ hẹp 85-90%, mạch vành phải hẹp hơn 90%, có đoạn gần tắc hoàn toàn. “Bệnh nhân có nguy cơ nhồi máu cơ tim bất cứ lúc nào”, Giáo sư Nhân nhận định.
Khi phát hiện mắc bệnh ba nhánh mạch vành ba tháng trước, ông Hải được chỉ định đặt stent để mở rộng lòng mạch, ngăn ngừa nguy cơ nhồi máu cơ tim. Vì chưa có triệu chứng rõ ràng, ông xin điều trị nội khoa bằng thuốc. Gần đây, ông đau thắt ngực trái từng cơn, lúc đầu âm ỉ, sau cường độ đau mạnh hơn với tần suất dày hơn.
Theo Giáo sư Nhân, hiện ba nhánh mạch hẹp nặng, khó can thiệp cả ba nhánh trong cùng một lần vì lượng cản quang đưa vào cơ thể bệnh nhân nhiều, có thể ảnh hưởng tới chức năng thận. Êkíp tiến hành đặt 2 stent mở rộng động mạch liên thất trước và động mạch mũ trước. Hai tuần sau, bác sĩ lên kế hoạch tái thông nhánh mạch vành phải cho ông. Mạch máu này bị vôi hóa nặng, xơ cứng khiến quá trình nong bóng, đặt stent vô cùng khó khăn, nguy cơ cao stent không nở hết hoặc lệch vị trí.
“Tôi muốn chọn loại stent tốt nhất để giảm rủi ro khi can thiệp, dự định sang Singapore làm thủ thuật lần hai”, ông Hải chia sẻ. Nhưng khi biết Bệnh viện Tâm Anh đã áp dụng loại stent thế hệ mới nhất tại Việt Nam – Xience Skypoint – cùng kỹ thuật tiên tiến giúp hóa giải mảng vôi hóa, ông thay đổi ý định, ở lại Việt Nam để hoàn thành ca can thiệp.
Xience Skypoint có khung stent phù hợp với cấu trúc giải phẫu mạch máu vôi hóa của bệnh nhân, nhờ đó giảm viêm và giảm nguy cơ hình thành huyết khối; tăng khả năng giãn nở stent lớn hơn.
Ngoài ra, khác với lớp phủ polymer của các loại stent thế hệ trước, lớp phủ fluoropolymer của Xience Skypoint tương tác với protein trong máu góp phần giảm nguy cơ hình thành huyết khối, từ đó chống tăng sinh ở thành mạch, giảm nguy cơ tái hẹp về sau. “Khi stent được nong mở rộng đạt mức tối ưu kết hợp uống thuốc theo toa, nguy cơ tái hẹp giảm chỉ còn dưới 2%”, Giáo sư Nhân nói thêm.

Tuy nhiên, khi thực hiện thủ thuật, bóng không thể len qua đoạn mạch vôi hóa nặng. Êkíp quyết định dùng kỹ thuật IVL (Intravascular Lithotripsy – phá mảng vôi hóa ở thành động mạch bằng sóng xung kích) để làm mềm thành mạch. Nhờ kỹ thuật này, bệnh nhân tắc nghẽn mạch vành do vôi hóa nặng có thể điều trị bằng phương pháp đặt stent xâm lấn tối thiểu mà không cần mổ bắc cầu.
Quá trình can thiệp diễn ra thuận lợi. Nhờ xung sóng siêu âm mạnh mẽ, các mảng canxi nằm sâu dưới nội mạc dần nứt vỡ. Tiếp theo, bóng IVL được bơm phồng để nong mở rộng lòng mạch, hỗ trợ êkíp đưa stent đặt đúng vị trí, khơi thông dòng máu nuôi tim ngay lập tức. Kiểm tra sau thủ thuật ghi nhận stent nở trọn, không bị bó lại tại vị trí đoạn mạch vôi hóa nhiều, áp sát thành mạch. Máu nuôi tim dồi dào trở lại.
Ông Hải cải thiện triệu chứng đau ngực ngay sau can thiệp, gần như không đau. Ông hồi phục nhanh, không bị hạn chế đi lại nhờ bác sĩ luồn ống thông qua đường động mạch quay ở cổ tay. “Thật vui khi được điều trị bằng dụng cụ thế hệ mới và kỹ thuật cao ngay trong nước mà không cần ra nước ngoài”, ông chia sẻ, xuất viện 3 ngày sau đó.

Bệnh ba nhánh mạch vành là một trong những bệnh lý tim mạch nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cả ba nhánh chính của hệ thống động mạch vành. Khi các mạch máu này bị hẹp hoặc tắc nghẽn, tim không nhận đủ lượng oxy cần thiết, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp, suy tim…
Trước đây, trường hợp ba nhánh mạch vành hẹp nghẽn nặng phần lớn được điều trị bằng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Ngày nay, với sự phát triển của kỹ thuật can thiệp tim mạch hiện đại và stent, bóng phủ thuốc thế hệ mới, nhiều trường hợp hẹp nặng vẫn có thể được đặt stent ít xâm lấn, an toàn, giảm nguy cơ biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục.
Giáo sư Nhân lưu ý, nếu xuất hiện triệu chứng đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi kéo dài, đánh trống ngực, loạn nhịp tim, chóng mặt…, người bệnh nên đi khám chuyên khoa tim mạch tìm nguyên nhân, tránh bỏ lỡ “thời điểm vàng” điều trị. Người có các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, thừa cân – béo phì hoặc tiền sử gia đình bị nhồi máu cơ tim cần tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh sớm và can thiệp kịp thời.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH