Sự ra đời của thuốc sinh học đã mở ra “cánh cửa hồi sinh”, kiểm soát triệu chứng tốt và giúp người bệnh, đặc biệt là vảy nến mức độ nặng có thể trở về cuộc sống bình thường. Tuy nhiên, liệu pháp này không áp dụng cho mọi trường hợp và cần đặc biệt lưu ý khi điều trị cho người có bệnh nền, phụ nữ mang thai, trẻ em…

Thông tin được chia sẻ tại buổi đào tạo chuyên đề: “Điều trị vảy nến bằng thuốc sinh học ở các bệnh nhân đặc biệt”, diễn ra ngày 19/3, tại Viện nghiên cứu Tâm Anh (TAMRI). Chuyên đề do chuyên khoa Da liễu – Thẩm mỹ Da, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM và TAMRI phối hợp tổ chức.
Tại buổi đào tạo, các chuyên gia gồm:, tiến sĩ bác sĩ Đặng Thị Ngọc Bích, Trưởng chuyên khoa Da liễu – Thẩm mỹ Da, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, bác sĩ CKI Võ Thị Tường Duy, Đơn vị Da liễu – Thẩm mỹ Da, Trung tâm Khám chữa bệnh Tâm Anh Quận 7, thạc sĩ bác sĩ CKI Trần Nguyễn Anh Thư, chuyên khoa Da liễu – Thẩm mỹ Da, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, đã trình bày về những lưu ý trong quá trình điều trị vảy nến bằng thuốc sinh học ở các bệnh nhân đặc biệt.
Bác sĩ CKI Võ Thị Tường Duy cho biết, khoảng 125 triệu người trên thế giới đang sống chung với bệnh vảy nến. Tỉ lệ mắc bệnh tương đương nhau ở nam và nữ. Bệnh thường khởi phát ở 2 nhóm tuổi chính là 20-30 tuổi và 50-60 tuổi. Tuy nhiên, vảy nến vẫn có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, từ trẻ sơ sinh đến người lớn tuổi, với 35%-90% trường hợp có yếu tố di truyền.

Không đơn thuần là bệnh da liễu, vảy nến là bệnh viêm hệ thống, biểu hiện bằng các mảng đỏ da, bong vảy, đôi khi gây ngứa và đau. Khoảng 1/3 trường hợp mắc bệnh ở mức độ trung bình và nặng, gây tự ti, stress, ảnh hưởng đến cơ hội việc làm cũng như tài chính, tác động xấu đến chất lượng sống của người bệnh và hiện vẫn chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn.
Từ năm 2003, thuốc sinh học được đưa vào sử dụng, mang lại hiệu quả khá cao và ít tác dụng phụ nghiêm trọng hơn các phương pháp khác, trở thành lựa chọn hàng đầu cho người bệnh vảy nến. Tuy nhiên, do giá thuốc tại Việt Nam cao, phác đồ điều trị vẫn ưu tiên thuốc bôi và thuốc toàn thân. Thuốc sinh học chỉ được áp dụng khi vảy nến ở mức độ trung bình đến nặng hoặc tiên lượng bệnh không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác.
Hiện đất nước phát triển, kinh tế được cải thiện, thu nhập của người dân tăng hơn trước nên việc tiếp cận với thuốc sinh học cũng như các phương pháp hiện đại trong y học dễ hơn trước. Tuy nhiên, ngoài các lợi ích vượt trội, liệu pháp sinh học này cũng tồn tại một số tác dụng phụ, như tiềm ẩn nguy cơ kích hoạt nhiễm trùng nghiêm trọng, đặc biệt ở người bệnh viêm gan siêu vi hoặc lao tiềm ẩn, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, phụ nữ mang thai và trẻ em. Do đó, việc cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro ở từng trường hợp điều trị đóng vai trò rất quan trọng.
Bác sĩ CKI Võ Thị Tường Duy khuyến cáo, cần tầm soát lao, viêm gan siêu vi trên tất cả người bệnh vảy nến trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc sinh học.
Người bệnh vảy nến nhiễm lao tiềm ẩn (có vi khuẩn lao ở thể bất hoạt trong cơ thể), viêm gan siêu vi B (HBV) và viêm gan siêu vi C (HCV) có thể được điều trị bằng thuốc sinh học nhưng cần tuân thủ phác đồ đa chuyên khoa. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ chuyên khoa Da liễu và các chuyên khoa Lao – Gan – Nhiễm – Tiêu hóa để đánh giá nguy cơ, điều trị dự phòng và xét nghiệm các chỉ số: ALT (biểu hiện các tổn thương ở gan), HBV DNA (định lượng virus viêm gan B trong máu), HBsAg (kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B), HCV RNA (định lượng virus viêm gan C trong máu) mỗi 3 tháng trong suốt quá trình điều trị.
Với người bệnh HCV, nên ưu tiên thuốc ức chế TNF-α và Ustekinumab vì có tính dung nạp tốt, nguy cơ độc tính với gan thấp, ít làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Riêng người bệnh nhiễm lao tiềm ẩn và HBV, nhóm thuốc ức chế IL12/23, IL23 nên được ưu tiên áp dụng vì có ít rủi ro hơn so với nhóm ức chế TNF-alpha.
Thạc sĩ bác sĩ CKI Trần Nguyễn Anh Thư khuyến cáo, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần tránh thai khi dùng thuốc sinh học. Nếu có kế hoạch mang thai, người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị. Bác sĩ sẽ ưu tiên áp dụng nhóm thuốc tương thích với thai kỳ. Với phụ nữ mang thai bị vảy nến, nhóm ức chế TNF-alpha được ưu tiên sử dụng, có thể cân nhắc Secukinumab hoặc Ustekinumab nếu không có lựa chọn khác.
Với trẻ em, có thể sử dụng Etanercept, Adalimumab, Ustekinumab, Secukinumab, Ixekizumab theo phác đồ của Bộ Y tế nhưng cần lưu ý về độ tuổi và cân nặng để chọn liều phù hợp. “Tuyệt đối không tiêm ngừa vắc xin sống (vắc xin được tạo ra bằng cách giảm độc lực của 1 tác nhân gây bệnh) cho trẻ đang điều trị vảy nến bằng thuốc sinh học”, bác sĩ Thư nhấn mạnh.

Tiến sĩ bác sĩ Đặng Thị Ngọc Bích cho biết thêm, phụ nữ mắc vảy nến đang điều trị bằng thuốc sinh học nếu muốn có thai phải ngưng thuốc 20 tuần theo đúng phác đồ của Bộ Y tế. Trường hợp có thai ngoài ý muốn khi đang điều trị với thuốc sinh học, không được sử dụng thuốc sinh học đến tam cá nguyệt thứ 3 (3 tháng cuối cùng của quá trình mang thai). Đồng thời không tiêm vaccin sống cho trẻ sinh ra từ người mẹ từng điều trị vảy nến bằng thuốc sinh học trong 6 tháng đầu đời.
Tóm lại, thuốc sinh học là lựa chọn hàng đầu cho bệnh vảy nến nếu không có chống chỉ định. Vảy nến thể nhẹ vẫn có thể điều trị nếu ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh. Nếu vảy nến đi kèm bệnh viêm nhiễm như lao tiềm ẩn, viêm gan siêu vi B hoặc C, cần phối hợp đa chuyên khoa để kiểm soát bệnh theo đúng phác đồ đồng thời kiểm soát bệnh vảy nến bằng thuốc sinh học, giúp người bệnh cải thiện chất lượng sống.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH