Theo thống kê, mỗi năm có khoảng 60.000 người Việt Nam tử vong vì suy tim. Sử dụng thuốc ARNI thay thuốc ức chế men chuyển (ACEi) có thể giúp ngăn ngừa hơn 28.000 ca tử vong mỗi năm. Đồng thời, bệnh nhân suy tim được điều trị bằng ARNI giảm 20% nguy cơ tử vong do tim mạch hoặc phải nhập viện vì suy tim, góp phần cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị.

ARNI (Angiotensin Receptor-Neprilysin Inhibitor) là thuốc ức chế kép angiotensin và neprilysin, được dùng để điều trị suy tim. Thuốc bao gồm 2 thành phần hoạt động cùng nhau: thuốc chẹn thụ thể angiotensin II và thuốc ức chế neprilysin. Đây là bước tiến quan trọng trong điều trị suy tim, đặc biệt là suy tim với phân suất tống máu giảm. Thuốc được phát triển nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị bằng cách tác động đồng thời lên hai cơ chế bệnh sinh quan trọng của suy tim.
ARNI đã được chứng minh có hiệu quả vượt trội so với các phương pháp điều trị truyền thống trong việc giảm tỷ lệ tử vong và tái nhập viện ở bệnh nhân suy tim. ARNI được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt lần đầu tiên vào năm 2015 để điều trị suy tim EF giảm, đến tháng 2/2021 thì được phê duyệt để điều trị suy tim EF bảo tồn. (1)

Thuốc ARNI có hai thành phần hoạt chất chính là sacubitril và valsartan được kết hợp trong một viên thuốc.
Sự kết hợp này tạo nên một cơ chế tác động kép, vừa tăng cường các peptide có lợi vừa ức chế các yếu tố gây hại trong suy tim. Hai thành phần này được thiết kế để hoạt động đồng thời, tạo ra hiệu quả điều trị tối ưu.
ARNI được bán phổ biến nhất trên thị trường toàn cầu dưới tên biệt dược Entresto. Ngoài ra thuốc ARNI còn được được phân phối ở các thị trường khác nhau với tên biệt dược khác nhau như Uperio, Vymada, Lumianto… Tại Việt Nam, thuốc được dùng phổ biến nhất là Uperio. (3)
ARNI có công dụng chính trong điều trị suy tim mạn tính với phân suất tống máu giảm ở người lớn và trẻ em trên 1 tuổi, giúp cải thiện tiên lượng cũng như triệu chứng ở người bệnh. Người bệnh được điều trị bằng thuốc ARNI có tỷ lệ tử vong do các biến chứng liên quan đến tim hoặc phải nhập viện vì các vấn đề về tim thấp hơn 20% so với người dùng thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEi).
Ở bệnh nhân suy tim, tâm thất trái có thể bị giãn và giảm khả năng bơm máu đi nuôi cơ thể. Thuốc ARNI có thể giúp tim trở lại kích thước và chức năng bình thường, nhờ đó tâm thất trái có thể bơm máu hiệu quả hơn.
Nghiên cứu được công bố trên JAMA năm 2019 cho thấy, bệnh nhân suy tim dùng thuốc ARNI trong 1 năm có phân suất tống máu tăng lên từ 28-38%. Nhờ đó, giúp cải thiện các triệu chứng của suy tim như khó thở, mệt mỏi và phù. Các nghiên cứu cho thấy ARNI có hiệu quả vượt trội so với các thuốc ức chế men chuyển trong điều trị suy tim.
Ở người bệnh suy tim có sự hoạt hóa RAAS, dẫn đến co mạch, tăng huyết áp, tăng nồng độ aldosterone, tăng trương lực giao cảm và cuối cùng là tái cấu trúc cơ tim. Đồng thời, ở người bệnh suy tim có sự tăng peptide natri lợi niệu giúp giãn mạch, tăng bài tiết natri và nước tiểu. Do đó, hệ thống peptide natri lợi niệu làm giảm huyết áp, giảm trương lực giao cảm và giảm nồng độ aldosterone – tác dụng có lợi đối với quá trình sinh bệnh của suy tim. Peptide natri lợi niệu bị phân hủy bởi enzyme neprilysin.
Sacubitril hoạt động như một chất ức chế neprilysin, ngăn chặn sự phân hủy các peptide natri lợi niệu, dẫn đến kéo dài thời gian tác dụng có lợi của các peptide này. Valsartan là một ARB, ngăn chặn hoạt động của RAAS. Tuy nhiên, vì ức chế neprilysin sẽ gây tích tụ angiotensin II nên chất ức chế neprilysin không thể sử dụng riêng lẻ mà phải được kết hợp với ARB.
Các trường hợp bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng ARNI bao gồm:
ARNI có dạng viên nén và dạng viên nang.
Với dạng viên nén được chia làm 3 liều dùng:
Với dạng viên nang được chia làm 3 liều dùng:
Người lớn thường bắt đầu với liều 24/26 mg sacubitril/valsartan, uống 2 lần/ngày. Liều lượng tăng dẫn sau mỗi 2 – 4 tuần, lên đến liều mục tiêu là 97/103 mg sacubitril/valsartan, uống 2 lần/ngày, nếu người bệnh dung nạp được. Bệnh nhân nhi cần chỉnh liều theo cân nặng, tăng liều sau mỗi 2 tuần nếu người bệnh dung nạp được.
Bệnh nhân đang dùng thuốc ACEi hoặc ARB có thể dùng liều nhỏ hơn của thuốc ARNI thay thế. Trường hợp người bệnh gặp khó khăn khi uống dạng viên nén, bác sĩ có thể kê đơn thuốc dạng viên nang với liều lượng tương tự. Tuy nhiên, ở từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ có sự cân nhắc về liều lượng thích hợp để đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất.
Thuốc cần được uống đều đặn vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Người bệnh có thể uống trong hoặc ngoài bữa ăn để đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu. Riêng với dạng viên nang, không được nuốt cả viên, nhai, nghiền viên nang mà phải mở viên nang, rắc thuốc lên 1-2 thìa cà phê thức ăn mềm, sau đó dùng ngay, vứt bỏ vỏ viên nang sau khi lấy thuốc.

Khi người bệnh vô tình uống quá liều ARNI, có thể gặp các triệu chứng như hạ huyết áp nghiêm trọng, kèm theo chóng mặt, ngất. Trong trường hợp này, cần ngừng thuốc ngay lập tức và đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.
Nếu quên uống một liều, bạn hãy uống ngay khi nhớ ra, sau đó tiếp tục uống bình thường vào ngày hôm sau. Tuy nhiên, nếu gần đến giờ uống liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục uống bình thường. Tuyệt đối không tự ý uống liều gấp đôi.
Để đạt hiệu quả tốt khi điều trị bằng ARNI, người bệnh cần lưu ý một số điều sau:
Bệnh nhân suy tim được điều trị bằng ARNI thường dung nạp thuốc tốt. Tuy nhiên, một số người bệnh vẫn có thể gặp các tác dụng phụ như tụt huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận. Một số bệnh nhân có thể bị phù mạch ở nhiều vùng trên cơ thể như mặt, mí mắt,, cánh tay và chân.
Một số triệu chứng khác có thể xuất hiện như chóng mặt, mệt mỏi, ho khan và rối loạn tiêu hóa. Hiếm gặp hơn là các phản ứng dị ứng nghiêm trọng và giảm tiểu cầu. Tần suất và mức độ nghiêm trọng của tác dụng phụ thường tăng lên ở người cao tuổi và những người có bệnh lý nền phức tạp. Tuy nhiên, các tác dụng phụ thường biến mất trong vòng 14 ngày. Nếu sau 14 ngày, các tác dụng phụ vẫn không giảm, người bệnh cần thăm khám với bác sĩ tại BVĐK Tâm Anh để được điều chỉnh liều dùng ARNI nhỏ hơn.

Valsartan có thể tương tác với nhiều loại thuốc khác nhau, đặc biệt là các thuốc lợi tiểu giữ kali, thuốc bổ sung kali và các thuốc có thể làm tăng kali máu. Việc phối hợp với các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp và tăng nguy cơ suy thận. Sử dụng đồng thời với lithium có thể làm tăng nồng độ lithium trong máu. Vì vậy, cần thận trọng khi kết hợp với các thuốc hạ huyết áp khác vì có thể gây tụt huyết áp nghiêm trọng. Valsartan cũng có thể tương tác với các thuốc ức chế men chuyển, làm tăng nguy cơ tác dụng phụ.
Sacubitril có thể tương tác với các thuốc ức chế OATP1B1, OATP1B3, OAT3 và các tiền chất của PDE5. Do đó, chống chỉ định sử dụng đồng thời sacubitril với thuốc ức chế men chuyển vì làm tăng nguy cơ phù mạch. Sacubitril cũng có thể tương tác với các thuốc statins, làm tăng nồng độ của các thuốc này trong máu. Cần thận trọng khi phối hợp với các thuốc có thể ảnh hưởng đến hệ thống neprilysin, như một số thuốc chống trầm cảm và thuốc điều trị Alzheimer.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Thuốc ARNI trở thành liệu pháp điều trị đầu tay ở những bệnh nhân suy tim, đặc biệt là những bệnh nhân có phân suất tống máu giảm. Tuy nhiên, người bệnh cần tuân thủ dùng thuốc đúng theo chỉ định và thăm khám ngay với bác sĩ nếu có tác dụng phụ nghiêm trọng để được khắc phục kịp thời.