Các nhiễm khuẩn mức độ vừa đến nặng cần được điều trị bằng kháng sinh tiêm có phổ tác dụng đủ rộng, hiệu quả nhanh và an toàn trên lâm sàng. Trong nhóm kháng sinh beta-lactam có hoạt phổ rộng, Ertapenem được dùng phổ biến nhờ thời gian bán thải dài, tiện lợi với lịch dùng 1 lần/ngày. Bài viết sau sẽ giúp bạn hiểu rõ chỉ định, liều lượng, cảnh báo và các thông tin thiết yếu khi sử dụng thuốc này.
Ertapenem là thuốc gì?
Ertapenem là một kháng sinh thuộc nhóm carbapenem, dùng đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp để điều trị các nhiễm khuẩn vừa đến nặng do vi khuẩn nhạy cảm. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn.
Nhờ phổ tác dụng rộng trên nhiều loại vi khuẩn Gram âm, Gram dương và một số vi khuẩn kỵ khí, Ertapenem thường được dùng trong điều trị các nhiễm khuẩn như nhiễm trùng ổ bụng, nhiễm khuẩn da – mô mềm, viêm phổi mắc phải tại cộng đồng và nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng. Đây là thuốc sử dụng theo chỉ định và giám sát của nhân viên y tế, được dùng trong điều kiện nội trú để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
Ertapenem bền vững với tác dụng thủy phân của dehydropeptidase 1 (DHP-1) có ở điểm bàn chải của tế bào biểu mô ống lượn gần, vì vậy không cần sử dụng ertapenem cùng với chất ức chế DHP-1 như cilastatin.
Thuốc có tác dụng diệt khuẩn thông qua ức chế sự tổng hợp vách tế bào của các vi khuẩn Gram âm, Gram dương hiếu khí và kỵ khí do gắn với protein liên kết penicillin (PBP) và làm bất hoạt các protein này. Ertapenem không bị thủy phân bởi nhiều beta-lactamase khác nhau như penicillinase, cephalosporinase và beta-lactamase phổ rộng, nhưng bị thủy phân bởi metallo-beta-lactamase. Tác dụng hậu kháng sinh của thuốc được ghi nhận đối với một số vi khuẩn Gram dương và Gram âm.
Dược động học
1. Hấp thu
Sau truyền tĩnh mạch 1g ertapenem trong 30 phút cho người lớn, nồng độ thuốc trung bình trong huyết tương thu được là 155 microgam/ml ngay khi kết thúc truyền, 9 microgam/ml sau 12 giờ và 1 microgam/ml sau 24 giờ. Sau khi tiêm bắp liều như trên, nồng độ thuốc trong huyết tương khoảng 67 microgam/ml, đạt được sau 2 giờ.
Sinh khả dụng của thuốc khi tiêm bắp là 90%. Diện tích dưới đường cong nồng độ thuốc trong huyết tương (AUC) theo thời gian của ertapenem ở người lớn tăng tỉ lệ với liều trong khoảng liều từ 0,5 – 2g. Không thấy có sự tích lũy thuốc ở người lớn khi dùng nhiều liều tĩnh mạch từ 0,5 – 2 g mỗi ngày. Ở mỗi liều dùng, mỗi đối tượng, sinh khả dụng của thuốc khác nhau, cụ thể:
Sau khi truyền tĩnh mạch 15 mg/kg (tối đa 1g) ertapenem trong 30 phút cho trẻ 3 – 23 tháng, nồng độ thuốc trung bình trong huyết tương thu được là 103,8 microgam/ml ngay khi kết thúc truyền, 13,5 microgam/ml sau 6 giờ và 2,5 microgam/ml sau 12 giờ.
Sau khi truyền tĩnh mạch 15 mg/kg (tối đa 1g) ertapenem trong 30 phút ở trẻ 2 – 12 tuổi, nồng độ thuốc trung bình trong huyết tương thu được là 113,2 microgam/ml ngay khi kết thúc truyền, 12,8 microgam/ml sau 6 giờ và 3,0 microgam/ml sau 12 giờ.
Sau khi truyền tĩnh mạch 20 mg/kg (tối đa 1g) ertapenem trong 30 phút cho trẻ 13 – 17 tuổi, nồng độ thuốc trung bình trong huyết tương thu được là 170,4 microgam/ml ngay khi kết thúc truyền, 7,0 microgam/ml sau 12 giờ và 1,1 microgam/ml sau 24 giờ.
2. Phân bố
Ertapenem có mức độ gắn protein huyết tương trên 90%, tuy nhiên ở người lớn, tỷ lệ này giảm dần khi nồng độ thuốc trong máu tăng. Các nghiên cứu in vitro cho thấy hoạt chất này hầu như không làm thay đổi khả năng gắn protein của những thuốc có ái lực cao như warfarin, ethinyl estradiol hay norethindron. Trên lâm sàng, probenecid có thể làm giảm nhẹ mức độ liên kết protein của kháng sinh này, nhưng ảnh hưởng được đánh giá là không đáng kể.
Về phân bố, Ertapenem có thể tích phân bố khác nhau theo độ tuổi. Ở người lớn, giá trị này khoảng 0,12 lít/kg, trong khi trẻ từ 3 tháng đến 12 tuổi đạt khoảng 0,21 lít/kg. Ở nhóm thanh thiếu niên 13–17 tuổi, thể tích phân bố trung bình là 0,17 lít/kg, cho thấy sự thay đổi dược động học theo giai đoạn phát triển.
Ngoài ra, Ertapenem đã được ghi nhận có bài tiết vào sữa mẹ. Thông tin này cần được cân nhắc trong thực hành lâm sàng, đặc biệt khi chỉ định thuốc cho phụ nữ đang cho con bú, nhằm hạn chế nguy cơ phơi nhiễm thuốc không cần thiết cho trẻ.
3. Chuyển hóa
Một phần ertapenem bị thủy phân vòng beta-lactam bởi dehydropeptidase 1 ở thận thành chất chuyển hóa vòng mở không còn hoạt tính. Thuốc không được chuyển hóa ở gan. Dữ liệu in vitro cho thấy ertapenem không ức chế chuyển hóa qua cytochrom P450, không ức chế thải trừ qua trung gian P-glycoprotein và cũng không là cơ chất của hệ này.
4. Thải trừ
Nửa đời thải trừ của thuốc khoảng 4 giờ ở người lớn và thanh thiếu niên, và khoảng 2,5 giờ ở trẻ từ 3 tháng – 12 tuổi. Nửa đời thải trừ bị kéo dài hơn ở người suy thận. Khoảng 80% liều dùng được thải trừ qua thận, khoảng 38% ở dạng không đổi và 37% ở dạng đã chuyển hóa. Khoảng 10% liều dùng được thải trừ qua phân ở dạng không đổi. Độ thanh thải toàn phần ở người lớn là xấp xỉ 1,8 lít/giờ, ở trẻ em là 0,64 – 1,02 ml/phút/kg. Thẩm tách máu giúp loại trừ khoảng 30% lượng ertapenem.
Chỉ định của Ertapenem
Ertapenem được chỉ định cho người lớn và trẻ em (3 tháng – 17 tuổi) để điều trị các nhiễm khuẩn từ trung bình đến nặng gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm, bao gồm:
Nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng.
Nhiễm khuẩn vùng chậu cấp tính, bao gồm cả viêm nội mạc tử cung sau sinh, nhiễm khuẩn sau sảy thai và nhiễm khuẩn phụ khoa sau phẫu thuật.
Nhiễm khuẩn da và tổ chức dưới da, bao gồm cả nhiễm khuẩn chân ở người bệnh đái tháo đường nhưng không kèm viêm tủy xương.
Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu biến chứng, bao gồm cả viêm thận.
Dự phòng nhiễm khuẩn phẫu thuật ở người lớn trong phẫu thuật đại trực tràng.
Việc sử dụng ertapenem cần tuân thủ đúng chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ nhằm hạn chế nguy cơ kháng thuốc.
Ertapenem là kháng sinh dùng tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, việc sử dụng cần có chỉ định của bác sĩ và dưới sự giám sát của nhân viên y tế.
Thông tin hoạt chất chỉ mang tính chất tham khảo chung. Để biết chi tiết của từng thuốc, người bệnh cần đọc hướng dẫn sử dụng của từng loại thuốc và chỉ sử dụng thuốc khi có chỉ định của bác sĩ.
Chống chỉ định Ertapenem
Thuốc ertapenem không sử dụng trong những trường hợp:
Quá mẫn cảm với ertapenem hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc hoặc với các kháng sinh nhóm carbapenem khác.
Có tiền sử bị phản ứng phản vệ khi dùng kháng sinh β-lactam (penicillins, cephalosporins).
Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với các thuốc gây tê loại amid, không được sử dụng dung dịch ertapenem hòa tan trong lidocain hydroclorid để tiêm bắp.
Liều lượng và cách dùng Ertapenem
1. Cách dùng
Ertapenem được dùng theo đường tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Có thể truyền tĩnh mạch tới tối đa 14 ngày hoặc tiêm bắp tới tối đa 7 ngày.
Quá trình chuẩn bị, sử dụng thuốc phải được thực hiện và giám sát bởi nhân viên y tế.
Truyền tĩnh mạch:
Người lớn: hoàn nguyên 1 lọ bột 1g ertapenem với 10ml nước cất pha tiêm hoặc dung dịch tiêm truyền natri clorid 0,9%, lắc kỹ sau đó pha loãng ngay với 50ml dung dịch tiêm truyền natri clorid 0,9%.
Cho trẻ em 3 tháng – 12 tuổi: hòa tan lọ bột 1g ertapenem với 10ml nước cất pha tiêm hoặc dung dịch tiêm truyền natri clorid 0,9%, lắc kỹ sau đó rút ra lượng thuốc tương ứng với dung dịch tiêm truyền natri clorid 0,9% để được dung dịch thuốc có nồng độ 20 mg/ml hoặc ít hơn.
Truyền tĩnh mạch trong khoảng 30 phút.
Tiêm bắp: Hoàn nguyên lọ bột ertapenem 1g bằng 3,2ml dung dịch tiêm lidocain 1% (không chứa epinephrin), lắc kỹ để đảm bảo tan hết. Dung dịch này không được phép tiêm tĩnh mạch. Toàn bộ lọ thuốc sau đó được rút ra và tiêm bắp sâu vào một khối cơ lớn như mông hoặc phần ngoài của đùi. Thuốc sau khi hoàn nguyên phải được tiêm trong vòng 1 giờ.
2. Liều lượng
Liều dùng trong điều trị nhiễm khuẩn:
Người lớn và trẻ em từ 13 tuổi trở lên: Truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 1g, ngày 1 lần.
Trẻ em từ 3 tháng – 12 tuổi: Truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 15 mg/kg, 2 lần/ngày (tổng liều hàng ngày không vượt quá 1 g).
Thời gian điều trị tùy thuộc vào loại và mức độ nhiễm khuẩn:
Nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng: 5 – 14 ngày.
Nhiễm khuẩn da và tổ chức dưới da có biến chứng: 7 – 14 ngày.
Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng, nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng: 10 – 14 ngày; sau 3 ngày dùng đường tiêm, có thể chuyển sang điều trị kháng sinh đường uống nếu có cải thiện về lâm sàng.
Nhiễm khuẩn vùng chậu cấp tính: 3 – 10 ngày.
Liều dùng trong dự phòng nhiễm khuẩn phẫu thuật đại trực tràng ở người lớn: 1 liều duy nhất 1g, truyền tĩnh mạch trước khi phẫu thuật khoảng 1 giờ.
Liều dùng cho người suy thận:
Không cần giảm liều khi dùng cho bệnh nhân người lớn bị suy thận có Clcr > 30ml/phút/1,73m2. Bệnh nhân có Clcr ≤ 30ml/phút hoặc bệnh thận giai đoạn cuối (Clcr ≤ 10 ml/phút/1,73 m2) dùng liều 500mg mỗi 24 giờ.
Người bệnh đang lọc máu: liều ở người trưởng thành là truyền tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 500mg/ngày trong vòng 6 giờ trước khi lọc và một liều bổ sung 150mg sau khi lọc. Nếu ertapenem được dùng trên 6 giờ trước khi lọc máu thì không cần liều bổ sung. Chưa có đủ dữ liệu trên bệnh nhân lọc màng bụng.
Chưa có dữ liệu về hiệu chỉnh liều dùng ở trẻ em bị suy thận.
Người suy gan: không cần hiệu chỉnh liều.
Người cao tuổi: không cần hiệu chỉnh liều, trừ trường hợp người bệnh có suy thận.
Quá liều và xử lý
Chưa có thông tin cụ thể về điều trị quá liều ertapenem. Rất ít khả năng quá liều do cố ý. Tiêm tĩnh mạch thuốc với liều 2g trong 30 phút hoặc 3g trong 1 – 2 giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh làm tăng tần suất nôn. Trong nghiên cứu lâm sàng ở người lớn, tiêm bất cẩn 3 liều ertapenem 1g trong thời gian 24 giờ, làm 1 người bệnh bị tiêu chảy và chóng mặt nhất thời. Trong nghiên cứu lâm sàng ở trẻ em, tiêm tĩnh mạch duy nhất 1 liều 40 mg/kg cho tới tối đa 2 g không gây độc.
Trong trường hợp quá liều, phải ngừng ngay thuốc và cho điều trị hỗ trợ cho tới khi thuốc thải trừ hết qua thận. Một phần ertapenem có thể được thải trừ nhờ thẩm tách máu. Tuy nhiên, chưa có thông tin về dùng thẩm phân máu ở điều trị quá liều.
Tác dụng phụ của Ertapenem
Các tác dụng phụ của thuốc ertapenem được chia theo tần suất như sau:
1. Thường gặp
Thần kinh trung ương: đau đầu.
Mạch máu: biến chứng tại tĩnh mạch do truyền, viêm tĩnh mạch.
Tiêu hóa: tiêu chảy, nôn và buồn nôn.
Da: mẩn, ngứa, ban; hăm da (trẻ em).
Hóa sinh máu: tăng ALT, AST, alkaline phosphatase.
Công thức máu: tăng số lượng tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính (trẻ em).
Tiêu hóa: đại tiện không tự chủ, viêm phúc mạc vùng chậu.
Gan mật: viêm túi mật, vàng da, rối loạn chức năng gan.
Da: viêm da, tróc vảy.
Cơ xương: co rút cổ, đau vai.
Thận tiết niệu: suy giảm chức năng thận, suy thận cấp.
Sinh sản: sảy thai.
Phản ứng tại chỗ chai vùng tiêm.
4. Chưa xác định tần suất
Miễn dịch: sốc phản vệ.
Tâm thần: thay đổi trạng thái tâm thần (kích động, mất phương hurong).
Thần kinh trung ương: do giác, mất ý thức, rối loạn vận động, co giật cơ.
Tiêu hóa: đổi màu men răng.
Da: hội chứng phát ban do thuốc kèm tăng bạch cầu ưa acid và các triệu chứng toàn thân (hội chứng dress).
Cơ xương: yếu cơ.
Cách xử trí các tác dụng phụ:
Nếu xảy ra bất kỳ phản ứng nào trong quá trình sử dụng thuốc, cần thông báo với bác sĩ hoặc nhân viên y tế để được theo dõi và chẩn đoán, điều trị phù hợp.
Tương tác thuốc Ertapenem
Khi phối hợp điều trị, cần lưu ý các tương tác thuốc quan trọng sau để đảm bảo an toàn và hiệu quả:
Tương tác với probenecid: Ertapenem có thể bị giảm thải trừ khi dùng đồng thời với probenecid do ức chế bài tiết qua thận. Hệ quả là nồng độ thuốc trong huyết tương tăng và kéo dài thời gian bán thải, làm gia tăng nguy cơ tác dụng không mong muốn. Vì vậy, không khuyến cáo phối hợp hai thuốc này trong thực hành lâm sàng.
Tương tác với acid valproic và các valproat: Ertapenem và các carbapenem khác có thể làm giảm đáng kể nồng độ valproat huyết thanh, từ đó tăng nguy cơ bùng phát cơn co giật. Do đó, nên tránh phối hợp; ưu tiên thay thế bằng kháng sinh khác. Nếu bắt buộc dùng chung, cần cân nhắc bổ sung thuốc chống động kinh và theo dõi chặt chẽ.
Các tương tác khác: Ertapenem hiện chưa ghi nhận tương tác có ý nghĩa lâm sàng với thuốc chuyển hóa qua hệ enzym cytochrom P450 tại gan hoặc các thuốc thải trừ thông qua p-glycoprotein. Điều này cho thấy nguy cơ tương tác chuyển hóa của kháng sinh này tương đối thấp trong các phác đồ phối hợp thông thường.
Tương kỵ thuốc Ertapenem
Không hoàn nguyên hoặc pha loãng ertapenem natri với các dung dịch glucose 5%, glucose-natri clorid, Hartmann’s, Ringer’s, Manitol, natri carbonat. Do thiếu các nghiên cứu về khả năng tương hợp, không được trộn lẫn ertapenem với các thuốc khác.
Thận trọng khi dùng Ertapenem
1. Lưu ý chung
Các điểm cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng kháng sinh này gồm:
Nguy cơ phản ứng quá mẫn nghiêm trọng:Ertapenem có thể gây phản vệ đe dọa tính mạng ở người từng dị ứng với kháng sinh beta-lactam như penicillin hoặc cephalosporin. Nguy cơ này tăng ở người có cơ địa dị ứng đa dị nguyên. Trước khi dùng, cần khai thác kỹ tiền sử dị ứng; nếu xuất hiện ban da hay dấu hiệu mẫn cảm, phải ngừng thuốc ngay và xử trí cấp cứu khi cần.
Tác động lên hệ thần kinh trung ương: Co giật và các phản ứng bất lợi thần kinh đã được ghi nhận, đặc biệt ở người có bệnh lý thần kinh sẵn có hoặc suy giảm chức năng thận. Do đó, cần tuân thủ liều khuyến cáo, điều chỉnh liều phù hợp để tránh tích lũy. Khi xuất hiện giật cơ hoặc co giật, cần đánh giá lại liều, cân nhắc ngừng thuốc và duy trì điều trị chống co giật nếu có tiền sử.
Tương tác với acid valproic/divalproex: Việc phối hợp ertapenem với các thuốc này có thể làm giảm nồng độ valproat huyết thanh, từ đó tăng nguy cơ co giật. Vì vậy, không nên dùng đồng thời. Trường hợp bắt buộc, cần cân nhắc thay kháng sinh khác hoặc bổ sung thuốc chống co giật phù hợp.
Nguy cơ bội nhiễm và tiêu chảy do C. difficile: Sử dụng kháng sinh phổ rộng có thể làm phát triển vi sinh vật không nhạy cảm, bao gồm nấm và vi khuẩn gây viêm ruột kết giả mạc. Cần theo dõi chặt chẽ khi xuất hiện tiêu chảy thứ phát; nếu nghi ngờ C. difficile, phải ngừng thuốc và điều trị đặc hiệu.
Sử dụng hợp lý và theo dõi dài hạn: Dùng ertapenem khi không có bằng chứng nhiễm khuẩn sẽ không mang lại lợi ích và làm tăng nguy cơ kháng thuốc. Với liệu trình kéo dài, cần xét nghiệm định kỳ chức năng gan, thận và huyết học. Độ an toàn của thuốc chưa được xác lập ở trẻ dưới 3 tháng tuổi, do đó không khuyến cáo sử dụng cho nhóm này.
2. Lưu ý quan trọng khi dùng thuốc trong thời kỳ mang thai và cho con bú
Ertapenem hiện chưa có đủ dữ liệu nghiên cứu trên phụ nữ mang thai. Các thử nghiệm trên động vật không ghi nhận tác động trực tiếp hay gián tiếp của hoạt chất này lên thai kỳ, sự phát triển của thai hoặc con non. Tuy nhiên, do chưa xác định rõ mức độ an toàn trên người, việc sử dụng thuốc trong thai kỳ chỉ nên cân nhắc khi lợi ích điều trị cho mẹ vượt trội nguy cơ tiềm ẩn đối với thai nhi và phải có chỉ định y tế chặt chẽ.
Ở phụ nữ cho con bú, Ertapenem được chứng minh có bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ thấp, song dữ liệu về ảnh hưởng lên trẻ bú và quá trình tiết sữa còn hạn chế. Do chưa thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ, khuyến cáo không nên cho trẻ bú mẹ trong thời gian sử dụng kháng sinh này.
Bảo quản Ertapenem
Dung dịch thuốc sau khi hoàn nguyên có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng 25°C và truyền tĩnh mạch trong vòng 6 giờ kể từ sau khi hoàn nguyên, hoặc bảo quản trong tủ lạnh ở 5 °C cho tới 24 giờ và phải truyền trong vòng 4 giờ sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh. Dung dịch ertapenem không được làm đông đá.
Nếu cần đánh giá chính xác tình trạng nhiễm khuẩn và chỉ định kháng sinh phù hợp như Ertapenem, việc thăm khám trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa là bước quan trọng. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, hệ thống xét nghiệm – vi sinh hiện đại cùng đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm hỗ trợ xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa, an toàn và hiệu quả. Chủ động đặt lịch khám để được tư vấn và theo dõi điều trị đúng chuẩn y khoa.
Để đặt lịch khám, tư vấn, điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Trong hành trình điều trị nhiễm trùng nặng hoặc phức tạp, việc lựa chọn đúng kháng sinh đóng vai trò then chốt. Thuốc Ertapenem, với đặc tính thuộc nhóm kháng sinh carbapenem thế hệ mới có phổ hoạt động rộng và phù hợp nhiều chỉ định quan trọng. Việc sử dụng cần dựa trên chỉ định bác sĩ, cân nhắc chức năng thận, bệnh nền kèm theo, tương tác thuốc và theo dõi chặt chẽ.