
Alendronic acid ra mắt lần đầu tiên vào năm 1978 và được chấp thuận sử dụng trong y tế tại Hoa Kỳ vào năm 1995. Đến năm 2022 thuốc được sử dụng phổ biến và thuộc top thuốc được kê đơn phổ biến thứ 103 tại Hoa Kỳ, với hơn 6 triệu đơn thuốc.

Alendronic Acid là một loại thuốc bisphosphonate được sử dụng để điều trị loãng xương và bệnh Paget xương.
Axit alendronic là một loại thuốc chống hủy xương thuộc nhóm bisphosphonate có tác dụng ngăn ngừa sự tiêu xương do tế bào hủy xương gây ra, được sử dụng để phòng ngừa và điều trị loãng xương.
Axit alendronic liên kết với hydroxyapatite tại xương. Trên thực tế, sự hấp thu xương gây ra tình trạng axit hóa tại chỗ, giải phóng axit alendronic được đưa vào tế bào hủy xương thông qua quá trình nội bào pha lỏng. Các túi nội bào bị axit hóa, giải phóng axit alendronic vào tế bào chất của tế bào hủy xương, tại đó chúng gây ra chứng apoptosis. Sự ức chế tế bào hủy xương dẫn đến giảm sự hấp thu xương, thể hiện qua việc giảm canxi niệu, deoxypyridinoline và N-telopeptides liên kết chéo của collagen loại I.
Alendronic acid có sẵn dưới dạng Binosto, Fosamax và Alendronate dạng thuốc gốc với các dạng bào chế sau đây dùng qua đường uống [1].
|
|
|
| Tên thương mại (Common Brand Name) | Binosto; Fosamax |
| Tên gọi chung (Common Generic Name) | Alendronate, Alendronate Na; Alendronate sodium |
| Nhóm thuốc (Drug Classes) | Bisphosphonate |
| Danh mục (Availability) | Bán theo đơn |
| Dạng bào chế | Viên uống: 5mg, 10mg, 35mg, 40mg, 70mg, viên sủi bọt: 70mg, dung dịch uống 70mg/75ml |
| Cách sử dụng | Dạng lỏng, dạng viên nén nuốt trực tiếp, dạng viên sủi bọt hòa tan trong nước |
| MedlinePlus | a601011 [2] |
| Công thức hóa học | C4H13NO7P2 |
| Khối lượng phân tử | Trung bình: 249.096
Đơn vị: 249.016724799 249,096 g·mol −1 |
| Danh mục cho thai kỳ | AU:B3 |
| ID CAS | 66376-36-1 |

Thành phần hoạt chất của axit Alendronic, natri alendronate trihydrate là một bisphosphonate ức chế sự hoạt động của tế bào hủy xương mà không có tác dụng trực tiếp lên sự hình thành xương. Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã chỉ ra sự định vị ưu tiên của alendronate đến các vị trí tái hấp thu tích cực. Hoạt động của tế bào hủy xương bị ức chế, nhưng sự tuyển dụng hoặc gắn kết của tế bào hủy xương không bị ảnh hưởng. Xương được hình thành trong quá trình điều trị bằng alendronate có chất lượng bình thường.
Alendronic acid cũng là thuốc điều trị loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi. Tác dụng của Alendronate đối với khối lượng xương và tỷ lệ gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh đã được kiểm tra trong các nghiên cứu.
Ngoài ra, trong các nghiên cứu lâm sàng, tình trạng giảm canxi và phosphat huyết thanh nhẹ và không triệu chứng đã được quan sát thấy ở khoảng 18 và 10% bệnh nhân dùng alendronate 10mg/ngày so với khoảng 12 và 3% bệnh nhân dùng giả dược. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm canxi huyết thanh xuống < 8,0 mg/dl (< 2,0 mmol/l) và phosphat huyết thanh xuống ≤ 2,0 mg/dl (0,65 mmol/l) là tương tự nhau ở cả hai nhóm điều trị.
Alendronic acid cũng được nghiên cứu ở một số ít bệnh nhân mắc bệnh xương thủy tinh dưới 18 tuổi. Nhưng kết quả không đủ để hỗ trợ việc sử dụng natri alendronate ở bệnh nhân nhi mắc bệnh xương thủy tinh.
So với liều tham chiếu tiêm tĩnh mạch, sinh khả dụng trung bình đường uống của Alendronic acid ở phụ nữ là 0,64% đối với liều từ 5mg đến 70 mg khi dùng sau một đêm nhịn ăn và hai giờ trước bữa sáng chuẩn [3]. Sinh khả dụng giảm tương tự như ước tính 0,46% và 0,39% khi Alendronic acid được dùng một giờ hoặc nửa giờ trước bữa sáng chuẩn. Trong các nghiên cứu về loãng xương, Alendronate có hiệu quả khi dùng ít nhất 30 phút trước khi ăn hoặc uống lần đầu tiên trong ngày.
Khả dụng sinh học không đáng kể cho dù Alendronic acid được dùng cùng hoặc sau bữa sáng chuẩn đến hai giờ. Dùng đồng thời Alendronic acid với cà phê hoặc nước cam sẽ làm giảm khả dụng sinh học khoảng 60%.
Ở những người khỏe mạnh, prednisone uống (20 mg ba lần mỗi ngày trong năm ngày) không gây ra sự thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về khả dụng sinh học đường uống của alendronic acid (mức tăng trung bình từ 20% đến 44%).
Các nghiên cứu trên chuột cho thấy Alendronic acid phân bố tạm thời vào các mô mềm sau khi tiêm tĩnh mạch 1 mg/kg nhưng sau đó nhanh chóng phân bố lại vào xương hoặc bài tiết qua nước tiểu. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định trung bình, không bao gồm xương, là ít nhất 28 lít ở người. Nồng độ thuốc trong huyết tương sau liều điều trị uống quá thấp để phát hiện bằng phân tích (<5 mg/ml). Liên kết protein trong huyết tương người là khoảng 78%.
Không có bằng chứng nào cho thấy Alendronic acid được chuyển hóa ở động vật hoặc con người.
Sau một liều tiêm tĩnh mạch Alendronic acid, khoảng 50% phóng xạ được bài tiết qua nước tiểu trong 72 giờ, và rất ít hoặc không có phóng xạ trong phân; độ thanh thải thận của liều 10mg là 71 ml/phút, toàn thân không vượt quá 200 ml/phút. Nồng độ trong huyết tương giảm hơn 95% trong vòng sáu giờ sau khi tiêm tĩnh mạch.
Thời gian bán thải cuối cùng ở người ước tính vượt quá 10 năm [4], phản ánh sự giải phóng Alendronate từ bộ xương. Alendronate không được bài tiết qua hệ thống vận chuyển có tính axit hoặc bazơ của thận ở chuột, do đó không dự đoán rằng nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình bài tiết các sản phẩm thuốc khác qua các hệ thống đó ở người.
Thuốc Alendronic acid sử dụng qua đường uống. Và để thuốc phát huy hết tác dụng người bệnh nên lưu ý:
Lưu ý:
Khi sử dụng thuốc Alendronic acid quá liều đường uống có thể dẫn đến hạ canxi máu, hạ phosphat máu và các phản ứng có hại ở đường tiêu hóa trên, chẳng hạn như đau dạ dày, ợ nóng, viêm thực quản, viêm dạ dày hoặc loét.
Hiện nay, chưa có thông tin cụ thể về cách điều trị quá liều alendronic acid. Tuy nhiên, bác sĩ khuyên, người bệnh nên uống thêm sữa hoặc thuốc kháng axit để liên kết alendronic acid. Do nguy cơ kích ứng thực quản, không nên để buồn nôn và bệnh nhân nên ở tư thế thẳng đứng sau uống thuốc.
Nếu bạn đã uống được một nửa liều hoặc đã ăn sáng xong và nhận ra mình quên uống Alendronic acid, hãy đợi đến sáng hôm sau mới uống liều kế tiếp. Sau đó quay lại lịch trình thường lệ vào tuần tiếp theo. Tuy nhiên, cần lưu ý không nên uống liều gấp đôi trong ngày để bù cho liều đã quên.
Thuốc Alendronic acid có thể gây tác dụng phụ thường gặp như: Nhức đầu, đau bụng, trào ngược acid, đầy hơi, nuốt khó, chướng bụng, viêm loét thực quản, tiêu chảy.

Phát ban trên da, phát ban đỏ (hiếm), hoặc viêm dạ dày.
Phát ban trên da khi bị dị ứng với Alendronic acid nói riêng và Bisphosphonat nói chung. Ngoài ra, một số trường hợp bị rối loạn thị giác, ảo thính giác, hoại tử xương hàm, hư khớp hàm, thậm chí gãy xương đùi nếu uống thuốc kéo dài.
Cách xử trí các tác dụng phụ nghiêm trọng:
Sau khi uống thuốc Alendronic acid sau khoảng 24 – 48h đầu tiên người bệnh có thể gặp các tác dụng phụ kể trên. Thời gian thuốc phát huy tác dụng phụ phụ thuộc vào từng trường hợp và tình trạng bệnh của mỗi người.
Các tác dụng phụ thường gặp có thể tự hết sau khoảng một thời gian mà không cần can thiệp gì. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể kéo dài lâu hơn từ 1 – 2 tuần, hoặc lâu hơn. Thậm chí cần can thiệp xử lý ngay nếu tác dụng phụ có nguy cơ trở nên nghiêm trọng.
Nếu dùng Alendronic Acid cùng lúc với thức ăn và đồ uống bao gồm trà, cà phê, sữa, nước ngọt… hoặc cơm, rau, thịt… sẽ làm giảm sự hấp thu alendronate. Do đó, bệnh nhân phải uống thuốc trước ăn ít nhất 30 phút.

Vì việc sử dụng Alendronic acid có liên quan đến kích ứng đường tiêu hóa nên cần thận trọng để tránh bị bệnh đường tiêu hóa.
Viên nén và dung dịch uống Alendronic acid nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng, từ 68F đến 77F (20 độ C đến 25 độ C). Có thể để thuốc ở nhiệt độ từ 59F đến 86F (15 độ C đến 30 độ C) trong thời gian ngắn hơn, chẳng hạn như khi vận chuyển. Bảo quản thuốc ở nơi khô ráo, thoáng mát, đậy kín, nên tránh ánh sáng trực tiếp và độ ẩm.

Alendronic acid có thể gây tổn hại cho bào thai hoặc cho em bé sơ sinh thông qua tác dụng trên cân bằng calci nội môi và chuyển hóa xương. Do đó, không nên sử dụng thuốc với phụ nữ mang thai. Bởi thực tế các nghiên cứu trên động vật cho thấy chúng đẻ khó và tạo xương không hoàn chỉnh.
Chưa có nghiên cứu chứng minh Alendronic acid có bài xuất vào sữa mẹ hay không. Tuy nhiên rất nhiều thuốc khác đã bài tiết vào sữa mẹ, do đó cần thận trọng sử dụng thuốc trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ.
Tăng cân không phải là tác dụng phụ thường gặp của thuốc alendronic acid. Nếu trong quá trình sử dụng thuốc, người bệnh nhận thấy cân nặng thay đổi, có chiều hướng tăng lên, hãy trao đổi với bác sĩ vì có thể là do nguyên nhân khác.
Đau khớp, cơ và xương là tác dụng phụ thường gặp khi sử dụng thuốc Alendronic acid. Tác dụng phụ có thể xảy ra trong vòng một ngày đến vài tháng sau khi bắt đầu điều trị. Nếu tình trạng khó chịu ở cơ xương của người bệnh chỉ là tạm thời, bác sĩ có thể kê thêm thuốc giảm đau không kê đơn (OTC) như acetaminophen (Tylenol) để dùng khi cần thiết cho các triệu chứng đau khớp, cơ hoặc xương. Nếu cơn đau ở cơ xương nghiêm trọng hoặc kéo dài, đây có thể là dấu hiệu của gãy xương, vì vậy hãy tìm kiếm sự trợ giúp y tế ngay lập tức.
Alendronic acid là thuốc được khuyến cáo không nên dùng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Một số trường hợp đặc biệt dùng cho trẻ em cần được chỉ định từ bác sĩ.
Để biết thêm thông tin về thuốc Alendronic acid hoặc cần tư vấn các vấn đề liên quan đến thuốc hay hoạt chất trong điều trị/ dự phòng điều trị các bệnh, quý khách vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Trong mọi trường hợp, người bệnh nên sử dụng Alendronic acid theo đúng chỉ định của bác sĩ. Tuân thủ về cách sử dụng thuốc, liều dùng và những lưu ý cần thiết. Nếu gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng nên thông báo với bác sĩ hoặc đến bệnh viện để được kiểm tra, xử lý tránh rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe.