Trung thất là khoang nằm trong lồng ngực và chứa hầu hết các bộ phận quan trọng của lồng ngực bao gồm thực quản, tim, tuyến ức, khí quản. Vậy chức năng hoạt động của trung thất như thế nào? Có những bệnh lý nào ảnh hưởng đến trung thất và làm thế nào để giữ cho sức khỏe cơ quan này được khỏe mạnh?

Trung thất là một trong ba khoang chính tạo nên khoang ngực, chứa hầu hết các bộ phận của lồng ngực bao gồm: tim, thực quản, khí quản, dây thần kinh ngực và hệ thống mạch máu. Trung thất tách biệt hoàn toàn hai khoang màng phổi.
Trung thất có một số chức năng quan trọng bao gồm:
Các cấu trúc khác trong trung thất bao gồm: mô mỡ và mô liên kết, các hạch bạch huyết, dây thần kinh, ống ngực…
Trung thất là một bộ phận của lồng ngực, nằm giữa hai phổi. Ranh giới của trung thất bao gồm:

Trung thất có thể được chia thành ba ngăn hoặc bốn ngăn, tùy thuộc vào giản đồ: phân loại truyền thống, phân loại ITMIG.
Mô hình truyền thống chia trung thất thành bốn ngăn:
Phân loại mới này dựa trên hình ảnh cắt ngang và chia trung thất thành ba ngăn: khoang tiền mạch, khoang nội tạng và khoang cạnh cột sống. Tất cả đều được bao bọc phía trên bởi lỗ vào ngực, phía dưới bởi cơ hoành và giới hạn ở bên ngoài bởi màng phổi trung thất.
Nhiều tình trạng khác nhau có thể ảnh hưởng đến các cơ quan và mô trong trung thất. Một số tình trạng bắt đầu ở trung thất như khối u nguyên phát hoặc u nang, hoặc một bệnh lý từ vị trí khác của cơ thể lây lan đến trung thất như ung thư. Nhiễm trùng ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể cũng có thể ảnh hưởng đến cơ quan này.
Trung thất giãn rộng là tình trạng trung thất rộng ít nhất 8cm. Đây là dấu hiệu lâm sàng mà bác sĩ có thể nhìn thấy khi xem trung thất từ sau ra trước trên phim X-quang. Trung thất giãn rộng có thể là dấu hiệu nghi ngờ các vấn đề khác bao gồm: bóc tách động mạch chủ, gãy xương sườn hoặc đốt sống, chèn ép tim, khối u trung thất, viêm trung thất, phình động mạch chủ ngực.
Bóc tách động mạch chủ xảy ra đột ngột khi lớp nội mạc bị rách, dẫn đến máu không chảy trong lòng mạch thật mà đi trong lòng bệnh lý (lòng giả) giữa nội mạc và trung mạc. Máu lưu thông đến các bộ phận khác trong cơ thể sẽ bị chậm lại hoặc tắc nghẽn. Thành động mạch chủ yếu dần và có nguy cơ vỡ gây tử vong.
Các dấu hiệu thường gặp của bóc tách động mạch chủ bao gồm: đau đầu dữ dội đột ngột, đau nhói ở ngực hoặc lưng, chóng mặt, ngất xỉu, tụt huyết áp, yếu hoặc tê liệt một bên cơ thể, khó nói chuyện… Đây là tình trạng nguy hiểm cần được cấp cứu. (3)

Đây là tình trạng một của động mạch chủ chạy qua ngực bị tổn thương, dần suy yếu và phình to ra. Ở giai đoạn đầu, phình động mạch chủ ngực hiếm khi gây ra triệu chứng. Nếu có dấu hiệu cảnh báo, thường là: đau ở hàm, cổ, ngực hoặc lưng; khó nuốt; khàn giọng; ho hoặc khó thở.
Trường hợp bệnh tiến triển nặng gây biến chứng vỡ khối phình hoặc gây bóc tách động mạch chủ, sẽ gây ra các triệu chứng: đau dữ dội ở ngực hoặc lưng, chóng mặt, hụt hơi, nhịp tim nhanh, đổ mồ hôi, lú lẫn, khó nói, mất thị lực, yếu hoặc liệt một bên cơ thể.
Chèn ép tim là hậu quả của dịch màng ngoài tim bị tích tụ lại, gây áp lực và làm suy giảm khả năng đổ đầy của tim, làm giảm thể tích nhát bóp. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chèn ép tim như: chấn thương ngực, vết thương xuyên thấu, bóc tách động mạch chủ, ung thư tiến triển, nhồi máu cơ tim cấp, viêm hoặc nhiễm trùng màng ngoài tim… Chèn ép tim có thể xảy ra sau một thủ thuật y tế.
Chèn ép tim là tình trạng rất nguy hiểm, làm giảm cung lượng tim, khiến các cơ quan trong cơ thể bị thiếu máu và oxy. Các biến chứng chèn ép tim có thể gây ra bao gồm: sốc tim, suy tim, tử vong.
Ung thư thực quản xuất hiện khi các tế bào của thực quản phát triển bất thường không thể kiểm soát, gồm có hai dạng chính:
Bệnh ở giai đoạn đầu thường không có triệu chứng. Do đó, đa số trường hợp phát hiện bệnh khi đã đến giai đoạn tiến xa hoặc gần cuối. Lúc này, các triệu chứng có thể xuất hiện bao gồm: nuốt nghẹn, khó nuốt, sụt cân, đau tức vùng ngực sau xương ức khi nuốt, nôn, tăng tiết nước bọt…
Kích thước của tuyến giáp gia tăng hoặc sự phát triển tế bào bất thường tạo thành một hay nhiều cục (nhân) trong tuyến giáp có thể là nguyên nhân dẫn đến hình thành bướu cổ. Hoặc tình trạng cơ thể bị thiếu i-ốt trong chế độ ăn uống cũng có thể gây bướu cổ. Các triệu chứng chính của bướu cổ bao gồm: xuất hiện u ở phía trước cổ, có cảm giác căng tức vùng cổ họng, khàn giọng, nổi tĩnh mạch cổ, chóng mặt khi đưa cánh tay lên đầu.
Tim nằm trong khoang nội tạng của trung thất. Chính vì vậy, những bệnh lý, bất thường về tim có thể ảnh hưởng đến trung thất. Ví dụ như tình trạng tràn dịch màng tim, viêm nội tâm mạc, cơ tim phì đại…
Ung thư hạch bạch huyết bao gồm hai loại chính là: u lympho không Hodgkin và u lympho Hodgkin. Bệnh gây ảnh hưởng đến các cơ quan trong hệ thống bạch huyết cũng như cơ quan khác trong cơ thể. Ung thư hạch bạch huyết có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em, thanh thiếu niên đến người trưởng thành.
Các dấu hiệu điển hình của ung thư hạch bạch huyết có thể kể đến như: xuất hiện các hạch ở nách, cổ, bẹn; sốt không rõ nguyên nhân; sụt cân; đổ mồ hôi ban đêm; chán ăn; người mệt mỏi; xuất huyết; phát ban, ngứa.
Các khối u trung thất có thể là lành tính (không phải ung thư) hoặc ác tính (ung thư). Vị trí của khối u phụ thuộc vào độ tuổi của người bệnh, có thể xuất hiện ở phần trước, gặp nhiều hơn ở người lớn hoặc phần sau của trung thất, chủ yếu gặp ở trẻ em.
Gần 40% bệnh nhân bị u trung thất không có biểu hiện triệu chứng. U trung thất thường được phát hiện sau khi chụp X-quang ngực để chẩn đoán tình trạng bệnh khác. Nếu có triệu chứng, thường là: ho, hụt hơi, đau ngực, buồn nôn và nôn, sốt, ớn lạnh, đổ mồ hôi đêm, khàn tiếng, thở khò khè, sụp mí mắt, đồng tử nhỏ và các vấn đề về mắt khác.
>> Xem thêm: 5 cách điều trị u trung thất và các nguyên tắc chung khi chỉ định

Viêm trung thất là tình trạng viêm do nhiễm trùng ở bộ phận này. Viêm có thể xảy ra đột ngột hoặc phát triển chậm và dần trở nên nghiêm trọng theo thời gian. Các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân bị viêm trung thất bao gồm: tức ngực, khó thở, sốt, ớn lạnh, viêm màng phổi, thở nông, ho, đau họng, sưng ở cổ, đau khi nuốt, không tỉnh táo.
Bệnh nhược cơ là bệnh lý tự miễn của những điểm nối thần kinh – cơ, đặc trưng là yếu cơ có tính chất dao động theo thời điểm trong ngày. Biểu hiện yếu cơ thường gặp ở cơ mắt (sụp mi), cơ vận nhãn, cơ vùng cổ vai, hông hoặc cơ hô hấp (thở mệt).
Bệnh có thể chuyển biến nặng nhanh chóng hoặc cơn yếu cơ xuất hiện một cách đột ngột, đặc biệt là yếu cơ hô hấp. Người bệnh bị yếu hoặc liệt cơ hoành, cơ liên sườn và các cơ thành ngực, có thể dẫn đến tình trạng suy hô hấp, thậm chí nguy cơ dẫn tới tử vong rất nhanh nếu các cơ hô hấp bị liệt hoàn toàn.
Sau khi thăm khám lâm sàng, nếu nghi ngờ có bất thường hoặc những bệnh lý liên quan đến trung thất, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng bao gồm:
X-quang ngực cho hình ảnh tổng quát toàn bộ lồng ngực ở thiết diện dọc và là điều kiện để định hướng khi chụp cắt lớp vi tính. Trung thất trên kết quả chụp X-quang ngực cho thấy hơi, dịch hay tổ chức bất thường ở trung thất. Trong đó loại có tổn thương có dạng dịch hay gặp và cho hình mờ thuần nhất.
Chụp CT cho phép định vị chính xác khối bệnh lý liên quan đến tạng nào của trung thất và tỷ trọng của nó, từ đó có thể phân tích sát với nguyên nhân của bệnh.
Chụp MRI cho hình ảnh chi tiết của các cấu trúc bên trong lồng ngực, bao gồm các bộ phận như thành ngực, màng phổi, trung thất, tim và mạch máu. Nhờ đó, có thể giúp phát hiện được các bất thường, bệnh lý liên quan đến trung thất.

Nội soi trung thất là phương pháp xâm lấn tối thiểu, bác sĩ sẽ mở một đường vào rất nhỏ ở ngực để lấy bệnh phẩm, sau đó đưa đi làm các xét nghiệm để chẩn đoán hỗ trợ. Bệnh nhân được chỉ định làm nội soi khi có phim cắt lớp vi tính có hình ảnh hạch trung thất đơn thuần hoặc kèm u phổi, u trung thất chưa có chẩn đoán mô học.
>> Xem thêm: Hạch trung thất có nguy hiểm không? Ở vị trí nào đáng lo nhất?
Siêu âm được sử dụng để chẩn đoán và đánh giá khối u trung thất hoặc các bất thường có liên quan đến trung thất.
Một lối sống lành mạnh có thể giúp giảm nguy cơ mắc nhiều tình trạng ảnh hưởng đến trung thất bao gồm:
Đồng thời, người bệnh nên đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, giúp phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý có liên quan đến trung thất. Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là nơi quy tụ đội ngũ bác sĩ có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tim mạch. Đồng thời, trung tâm có hệ thống trang thiết bị, máy móc hiện đại, áp dụng những kỹ thuật hiện đại mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch, đem lại hiệu quả chữa trị tốt nhất cho người bệnh.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hầu hết mọi người đều thường tập trung vào các bộ phận bên trong trung thất. Tuy nhiên, trung thất lại có nhiều vai trò vô cùng quan trọng đối với những cơ quan bên trong nó. Chính vì vậy, việc tìm hiểu về trung thất cũng như giữ cho trung thất được khỏe mạnh cũng là điều rất quan trọng.