Trong cơ thể có 2 dạng mỡ chính gồm mỡ trắng và mỡ nâu. Trong bài viết này, hãy cùng tìm hiểu về cấu tạo, chức năng và lợi ích của mỡ nâu đối với sức khỏe qua chia sẻ của chuyên viên Dinh dưỡng – Tiết chế Hoàng Đào Ngọc Lan.

Mỡ nâu (brown fat) là một loại chất béo lành mạnh, có chức năng chính giữ ấm cơ thể và chiếm tỷ lệ thấp, chỉ 3%-7% tổng khối lượng mỡ trong cơ thể. Trong cơ thể có 2 loại mỡ chính là mỡ trắng và mỡ nâu. Mỡ trắng chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Mỡ màu nâu thường không gây ảnh hưởng sức khỏe, vì thế được xem như 1 dạng chất béo lành mạnh trong cơ thể. Ngoài ra, còn 1 loại mỡ có màu nhạt (mỡ be) có cả đặc tính của cả mỡ trắng và nâu.
>> Tham khảo thêm về: Mỡ dưới da

Mô mỡ nâu thường có hình bầu dục nhỏ, màu nâu, sần sùi. Tế bào mỡ nâu có cấu tạo gồm nhân tế bào, nhiều hạt chất béo kích thước nhỏ và ty thể (chứa sắt) tạo ra màu nâu đặc trưng. Ngoài ra, bên trong tế bào mỡ nâu còn chứa 1 số bào quan khác, tất cả được bao bọc bởi màng tế bào.
Mỡ nâu ở trẻ em chủ yếu tập trung ở vùng lưng, cổ và vai. Với người lớn, chúng có thể phân tán ở nhiều vị trí như quanh cổ, thận, tuyến thượng thận, tim, ngực… Vị trí và tỷ trọng của loại mỡ này sẽ thay đổi theo tuổi tác. Cụ thể, càng lớn tuổi, tỷ lệ mỡ nâu trong cơ thể càng ít đi.

Màu của mô mỡ nâu do tế bào chứa nhiều chất sắt và bào quan (các thành phần trong tế bào) như ty thể, mạch máu khiến tế bào có màu sắc sẫm hơn. Trong khi đó, mỡ trắng chỉ chứa 1 hạt chất béo, ít ty thể, mạch máu nên có màu sắc trắng nhạt hoặc ngả vàng.
Ở trẻ sơ sinh, lớp mỡ nâu chiếm 2%-5% tổng trọng lượng cơ thể [1]. Tuy nhiên, lượng mỡ nâu này sẽ giảm dần khi trưởng thành. Đối với người lớn, mỡ nâu có thể chiếm 3%-7% lượng mỡ trong cơ thể, trong khi đó mỡ trắng chiếm 93%-97% tổng lượng mỡ.
Mỡ nâu có tác dụng tạo nhiệt để giữ ấm cơ thể. Khi gặp nhiệt độ lạnh, mỡ nâu sẽ kích hoạt quá trình trao đổi chất, dùng đường (glucose), axit amin và chất béo trong cơ thể để tạo nhiệt sưởi ấm cơ thể. Chỉ 1 lượng nhỏ mỡ nâu có thể đốt cháy rất nhiều calo từ mỡ trắng, do đó, mỡ nâu được coi như mỡ tốt.
Mỡ nâu có nhiều nhất ở trẻ sơ sinh, chiếm khoảng 2%-5% khối lượng cơ thể và ít dần khi trưởng thành. Trẻ em không thể rùng mình và chủ động giữ ấm (như mặc quần áo) nên mỡ nâu có nhiệm vụ phát nhiệt khi cơ thể cảm thấy lạnh để chống lại tình trạng hạ thân nhiệt.
Một số vấn đề sức khỏe có thể ảnh hưởng đến việc hình thành và khối lượng mỡ nâu trong cơ thể, dưới đây là những nguyên nhân phổ biến:
Chán ăn tâm thần (anorexia nervosa) là hội chứng rối loạn ăn uống, thường xảy ra ở nữ giới trước 40 tuổi [2]. Nguyên nhân có thể do ám ảnh về vấn đề kiểm soát cân nặng, thích thân hình gầy, sợ tăng cân. Việc chán ăn có thể gây giảm cả mỡ nâu và mỡ trắng, ảnh hưởng đến khả năng điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Leptin là hormone mà mô mỡ tiết ra, giúp cơ thể duy trì cân nặng qua khả năng kiểm soát cảm giác no. Việc thiếu hụt leptin có thể khiến cơ thể thường xuyên cảm thấy đói, tạo cảm giác thèm ăn liên tục, khó kiểm soát. Từ đó, tăng khối lượng mỡ tích lũy trong cơ thể.

Loạn dưỡng mỡ (lipodystrophy) là tình trạng phân bố mỡ bất thường hoặc mất (toàn bộ hoặc 1 phần) mô mỡ ở các vị trí nhất định trong cơ thể, ví dụ tay, chân, vai, cổ, bụng… Loạn dưỡng mỡ có thể do nhiều nguyên nhân như di truyền, loạn dưỡng mỡ ở vị trí tiêm thuốc insulin, do dùng thuốc điều trị HIV…
U mỡ (lipoma) là những khối u hình thành do sự phát triển quá mức của tế bào mỡ. U mỡ dưới da thường không gây đau hay ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Cách điều trị hiệu quả nhất là phẫu thuật (thường là tiểu phẫu) để loại bỏ khối u dưới da.
Để chẩn đoán tình trạng mô mỡ nâu trong cơ thể, các bác sĩ thường dùng 1 số phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp phát xạ positron kết hợp cắt lớp vi tính (PET/CT). Tuy nhiên, rất ít trường hợp thật sự cần chẩn đoán tình trạng mỡ nâu trong cơ thể, do đa số các biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe đều xuất phát từ mỡ trắng.
Hiện các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu cách tối ưu để tăng tỷ lệ mỡ nâu trong cơ thể. 1 số phương pháp có thể làm tăng mỡ nâu hoặc mỡ be (giữa nâu và trắng) gồm:
Mỡ nâu được xem như mỡ tốt do có khả năng tiêu thụ mỡ trắng để sinh nhiệt, giúp quá trình tiêu thụ calo và giảm mỡ diễn ra mạnh mẽ hơn. Mỡ nâu còn giúp cải thiện quá trình trao đổi chất trong cơ thể, hạn chế các bệnh như tiểu đường type 2, bệnh động mạch vành, cao huyết áp [3]…
Mỡ nâu chiếm tỷ lệ rất ít so với mỡ trắng nên thường không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Những bệnh liên quan đến thừa cân béo phì như cao huyết áp, máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ, đột quỵ, tiểu đường, rối loạn nội tiết… hầu hết đầu do ảnh hưởng của mỡ trắng. Vì những lợi ích về mặt sức khỏe, các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm nhiều cách để chuyển đổi mỡ trắng thành mỡ nâu.
Dưới đây là 1 số điểm khác nhau cơ bản giữa mỡ trắng và mỡ nâu:
Một số chất như acid ursolic, polyphenol, resveratrol (1 dạng polyphenol tự nhiên), catechin… có thể tăng cường hoạt động hoặc làm tăng tỷ lệ mỡ nâu, mỡ be trong cơ thể như:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Mỡ nâu chiếm tỷ lệ rất ít trong cơ thể, có chức năng kích hoạt quá trình sinh nhiệt để làm ấm cơ thể. Mỡ nâu chiếm 2%-5% khối lượng cơ thể trẻ sơ sinh và có xu hướng giảm dần theo thời gian. Do chiếm tỷ lệ ít, mỡ nâu thường không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Trong quá trình giảm cân, loại mỡ được giảm chủ yếu là mỡ trắng.