LDL Cholesterol thường được biết đến là loại “cholesterol xấu” vì nó tích tụ trong thành mạch máu, làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe như đau tim hoặc đột quỵ. Vậy chỉ số LDL-C trong máu bao nhiêu là bình thường và cần làm gì để cải thiện chỉ số này về mức an toàn?

LDL là một loại lipoprotein mật độ thấp có trong máu, được tạo thành từ lipid (chất béo) và protein mang chất béo qua máu. Vì vậy, lipoprotein đóng vai trò là phương tiện vận chuyển chất béo đến các tế bào khác nhau trong cơ thể.
Các hạt LDL chứa một lượng lớn cholesterol và một lượng nhỏ protein. Nếu có quá nhiều LDL sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ hoặc bệnh tim. Do đó, LDL thường được gọi là loại “cholesterol xấu”. (1)
LDL và LDL-C đều có nghĩa giống nhau. Bản thân LDL-C không xấu, vì cholesterol có vai trò trong việc thực hiện các chức năng quan trọng trong cơ thể. Tuy nhiên, khi lượng LDL-C trong cơ thể tăng cao vượt mức an toàn có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe.

LDL được coi là cholesterol xấu là do cholesterol LDL dư thừa trong cơ thể sẽ cùng với các chất khác tạo thành mảng bám. Mảng bám tích tụ trong động mạch và lớn dần theo thời gian, gây xơ vữa động mạch hoặc xơ cứng động mạch. Xơ vữa động mạch có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ và tử vong.
Sự tích tụ mảng bám trong động mạch của tim có thể dẫn đến bệnh động mạch vành, khiến cho các động mạch trở nên cứng, bị thu hẹp, làm chậm hoặc chặn dòng máu đến tim. Khi đó, tim không nhận đủ lượng oxy cần cho hoạt động bình thường, gây ra cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim nếu dòng máu bị tắc nghẽn hoàn toàn.
Khi mảng bám hình thành trên các động mạch cung cấp máu cho não gây bệnh động mạch máu não, tại bụng gây phình động mạch chủ, tại chân gây bệnh động mạch ngoại biên chi dưới.
Cholesterol cao bị ảnh hưởng bởi lối sống thiếu khoa học và yếu tố di truyền. Khoảng 20% dân số thế giới được cho là có mức Lp (a) tăng cao. Lp (a) là yếu tố nguy cơ phát triển mảng xơ vữa động mạch. Trong một nghiên cứu vào năm 2020 trên hơn 283.000 người trưởng thành ở Anh cho thấy, Lp (a) đo được có liên quan đến bệnh tim do xơ vữa động mạch. (2)
Tăng cholesterol máu gia đình mặc dù hiếm gặp hơn, nhưng tình trạng này ảnh hưởng đến khoảng 1 triệu người Mỹ và có thể gây ra mức LDL-C tăng cao ngay từ đầu đời. Nguy cơ dẫn đến nhồi máu cơ tim nếu không được điều trị sớm.
Người trưởng thành nên giữ mức LDL- C dưới 100 mg/dL. Nếu có tiền sử xơ vữa động mạch, mức LDL-C phải dưới 70 mg/dL. Đối với người có tiền sử bệnh liên quan động mạch vành, cần có sự quản lý LDL-C chặt chẽ hơn, dưới 55 mg/dL. Mức LDL-C trên 100 mg/dL sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch xơ vữa.

Phạm vi các mức độ của LDL-C như sau:
| Mức LDL-C | Đơn vị đo: mg/dL |
| Bình thường | Dưới 100 |
| Gần mức tối ưu | 100 – 129 |
| Gần ngưỡng mức cao | 130 – 159 |
| Cao | 160 – 189 |
| Rất cao | 190 trở lên |
Để biết chính xác chỉ số LDL-C, bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm cholesterol máu. Xét nghiệm này có thể kiểm tra định lượng cholesterol toàn phần, cụ thể mức LDL-C, HDL Cholesterol đang trong phạm vi lành mạnh hay đang cao, thấp hơn mức an toàn. Mức độ chất béo trung tính (triglycerides) cũng sẽ được đo thông qua xét nghiệm này.
Mức chất béo trung tính cao có thể tăng nguy cơ gặp các vấn đề về tim. Mức độ này có sự thay đổi qua mỗi năm, do đó, nên thực hiện xét nghiệm máu hằng năm hoặc theo định kỳ đối với những người có các yếu tố nguy cơ, người đang điều trị rối loạn mỡ máu. (3)
LDL Cholesterol có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố, khi có lối sống không lành mạnh và chế độ ăn nhiều dầu mỡ cũng có thể làm thay đổi theo chiều hướng xấu đi của loại cholesterol này, xem thêm một số yếu tố ảnh hưởng chỉ số LDL Cholesterol trong máu được các bác sĩ Tim mạch nhận định:
Chế độ ăn uống thiếu khoa học là một trong những nguyên nhân được biết đến nhiều nhất khiến mức LDL-C trong máu tăng cao. Dung nạp quá nhiều chất béo, bao gồm chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa khiến mức LDL-C tăng lên. Một số thực phẩm có thể khiến mức LDL-C tăng lên nếu ăn nhiều như thịt đỏ, thịt mỡ, sữa nguyên kem, thức ăn nhanh, bơ, trứng, nội tạng động vật, thực phẩm chiên rán…
Thừa cân, béo phì ẩn chứa nguy cơ mắc các bệnh lý nguy hiểm. Tình trạng này đồng nghĩa với mức LDL-C đang tăng cao và HDL-C giảm.
Do tính chất công việc và lối sống hiện nay, nhiều người trẻ rất ít tập luyện thể dục hoặc hầu như không vận động. Do đó, các acid béo bão hòa trong cơ thể tăng lên, LDL-C cao hơn.
Hút thuốc lá hoặc sử dụng các sản phẩm thuốc lá không chỉ ảnh hưởng đến phổi, mà nó còn giảm mức HDL-C. Cơ thể cần một lượng HDL-C lành mạnh để loại LDL-C dư thừa ra khỏi máu. Bằng việc khiến cho mức HDL-C giảm xuống, hút thuốc lá sẽ làm tăng mức LDL-C lên cao.
Nếu trong gia đình có người thân bị cholesterol cao, con sinh ra có nguy cơ gặp phải tình trạng này cao hơn. Do đó, việc xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ các chỉ số mỡ máu không chỉ cần thiết đối với người trưởng thành, mà trẻ em cũng nên được xét nghiệm sớm nếu tiền sử gia đình có người có mức cholesterol cao.
Tuổi tác cũng là nguyên nhân khiến LDL-C tăng lên. Tuổi càng cao, mức cholesterol sẽ có xu hướng tăng lên một cách tự nhiên. Phụ nữ trước tuổi tiền mãn kinh thường có chỉ số LDL-C thấp hơn so với nam giới trong cùng độ tuổi. Tuy nhiên, sau tuổi tiền mãn kinh, chỉ số LDL-C ở phụ nữ lại cao hơn so với nam giới cùng tuổi.

Một số bệnh lý khiến mức LDL-C cao hơn như: bệnh tiểu đường, bệnh thận mãn tính hoặc bị nhiễm HIV. Ngoài ra, việc sử dụng một số loại thuốc, bao gồm steroid, thuốc điều trị HIV cũng có thể gây ra tác dụng phụ khiến mức LDL-C tăng lên.
Mức LDL-C cao sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch bao gồm: bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại biên.
LDL-C trong máu tăng cao là nguy cơ chính gây bệnh mạch vành, có thể dẫn đến tử vong do nhồi máu cơ tim. LDL-C dư thừa kết hợp với một số chất khác tạo thành mảng xơ vữa trong lòng động mạch.
Các động mạch nuôi tim bị thu hẹp ở một số vị trí nhất định sẽ khiến lưu lượng máu đến cơ tim bị giảm hoặc ngưng đột ngột do tắc nghẽn hoặc tắc hoàn toàn. Các mảng xơ vữa có thể vỡ ra, trôi đến các mạch máu nhỏ hơn, gây tắc nghẽn một phần hoặc toàn bộ. Cơn đau thắt ngực xuất hiện khi lưu lượng máu đến tim giảm hoặc nhồi máu cơ tim nếu mạch máu bị tắc nghẽn hoàn toàn.
Xơ vữa động mạch là một quá trình tự nhiên, diễn ra âm thầm bên trong động mạch. Thủ phạm chính gây xơ vữa động mạch là do LDL-C dần tích tụ và lắng đọng trong lòng động mạch. LDL-C lưu thông trong máu, đến tận từng tế bào, khi gặp những chỗ tổn thương nội mạc, sẽ tích tụ vào vị trí đó, dần dần lấn sâu vào thành mạch.
Khi bạch cầu không thể tiêu hóa hết khối mỡ xấu LDL-C, sẽ vỡ ra, giải phóng khối mỡ xấu nguyên vẹn ban đầu. Bạch cầu mới sẽ tiếp tục đến và thực bào khối mỡ xấu, vỡ ra khi quá tải. Quá trình này diễn ra liên tục, hình thành nên mảng xơ vữa, gây chèn ép lòng mạch máu. Khi mảng xơ vữa càng lớn, lớp tế bào nội mạc phủ phía trên bị mỏng dần, mảng xơ vữa sẽ bị vỡ ra, nguy cơ gây nhồi máu cơ tim.
Bệnh mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai và là nguyên nhân gây tàn tật đứng thứ ba trên thế giới. Các bệnh mạch máu não thường gặp bao gồm đột quỵ do thiếu máu cục bộ, đột quỵ do xuất huyết và các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua.
Đột quỵ do thiếu máu cục bộ xảy ra khi động mạch bị tắc nghẽn bởi mảng bám, đột quỵ do xuất huyết thường liên quan đến vỡ mạch máu. LDL-C tăng cao cùng với các chất khác tích tụ trong động mạch chính là mảng bám gây tắc nghẽn động mạch máu não, nguy cơ dẫn đến đột quỵ. (4)

Ngoài bệnh lý ở tim và não, mảng bám do LDL Cholesterol tích tụ có thể gây ra các triệu chứng ở cánh tay, chân và các khu vực khác, còn gọi là bệnh động mạch ngoại biên. Quá trình xơ vữa xảy ra ở động mạch đưa máu đến các chi sẽ gây ra bệnh động mạch ngoại biên. Người bệnh có các triệu chứng như bị chuột rút, đau nhức ở bắp chân khi đi bộ, giảm đau khi nghỉ ngơi, vết thương hở ở chân lâu lành, thay đổi màu da ở tay chân, đau khi sử dụng cánh tay.
Khi lượng LDL-C trong máu tăng sẽ dẫn đến hình thành mảng bám trong động mạch, khiến lòng động mạch bị thu hẹp, làm giảm lưu lượng máu đến cơ tim. Khi cơ tim không được nhận đủ máu giàu oxy cần thiết, sẽ gây ra cơn đau thắt ngực.
Đây là tình trạng thành động mạch trở nên yếu đi và bị phình ra, tạo thành một khối chứa đầy máu. Nguyên nhân gây phình động mạch chủ không thể xác định rõ ràng. Tuy nhiên, xơ vữa động mạch được xem là một trong những khả năng gây ra bệnh này.
>>> Xem thêm: Chỉ số LDL cholesterol cao là gì? Có nguy hiểm không?
Áp dụng lối sống lành mạnh là cách đầu tiên giúp hạn chế tình trạng LDL-C cao. Nếu chỉ thay đổi thói quen sinh hoạt là không đủ, bác sĩ có thể kê đơn thuốc để giảm cholesterol. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) đưa ra các khuyến nghị giúp điều trị và ngăn ngừa LDL-C trong máu:

Xét nghiệm máu giúp theo dõi chỉ số cholesterol, bao gồm cả LDL-C, HDL-C, cholesterol toàn phần và triglyceride.

Trẻ em trong độ tuổi từ 9-11 tuổi nên được xét nghiệm máu lần đầu tiên và sau mỗi 5 năm nên kiểm tra lại. Người trưởng thành từ 20 tuổi nên thực hiện thăm khám sức khỏe theo định, làm xét nghiệm máu để đo chỉ số cholesterol 5 năm/lần. Nam giới từ 45-65 tuổi và nữ giới từ 55-65 tuổi nên xét nghiệm máu từ 1-2 năm/lần.
Do mức cholesterol sẽ có xu hướng tăng dần theo độ tuổi, nên những người từ 65 tuổi trở nên làm xét nghiệm này mỗi năm để theo dõi sát sao chỉ số LDL-C. Trường hợp mắc bệnh tim, tiểu đường hoặc có tiền sử gia đình bị cholesterol cao, cần kiểm tra thường xuyên hơn.
Để đặt lịch khám, tư vấn, điều trị cholesterol cao và các bệnh lý về tim mạch tại Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, bạn có thể liên hệ theo thông tin:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
LDL cholesterol tăng cao liên quan đến các bệnh lý tim mạch, nguy cơ gây đột quỵ, tử vong. Do đó, mỗi người cần hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số LDL-C, để từ đó có sự điều chỉnh trong lối sống, giúp đưa LDL-C về mức ổn định.