Hệ tiết niệu là 1 phần quan trọng trong cơ thể, giữ vai trò lọc máu và bài tiết nước tiểu, là “bộ lọc” trao đổi chất cho cơ thể. Bài viết này, Thạc sĩ, bác sĩ Cao Vĩnh Duy, khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, BVĐK Tâm Anh TP.HCM sẽ tư vấn các thông tin hữu ích về hệ tiết niệu, cấu tạo, chức năng vai trò của bộ phận này đối với thể người.

Hệ tiết niệu là 1 hệ thống các cơ quan trong cơ thể, bao gồm: thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Hệ thống này chịu trách nhiệm lọc máu, loại bỏ chất thải và nước dư thừa. Hệ thống tiết niệu được chia thành 2 phần:
Thận loại bỏ chất thải và chất lỏng dư thừa từ máu để tạo thành nước tiểu. Nước tiểu chảy từ thận qua niệu quản đến bàng quang. Nó được lưu trữ trong bàng quang cho đến khi rời khỏi cơ thể qua niệu đạo. Còn gọi là đường tiết niệu.

Vị trí của hệ tiết niệu trong cơ thể là nằm ở vùng bụng và xương chậu. Theo chiều từ trên xuống, vị trí các cơ quan trong hệ thống tiết niệu được sắp xếp như sau: phía trên cùng là 2 quả thận, tiếp đến là 2 ống nối thận với bàng quang, ống này gọi là niệu quản. Tiếp theo là bàng quang, nơi chứa nước tiểu và cuối cùng là niệu đạo, nối từ bàng quang và kết thúc bằng 1 lỗ nhỏ, trên bộ phận sinh dục. (1)

Cấu tạo hệ tiết niệu gồm 2 phần, là:
Thận gồm 2 quả, là cặp cơ quan màu nâu tím này nằm phía dưới xương sườn về phía giữa lưng. Chức năng của nó là:
Thận loại bỏ urê, creatinin ra khỏi máu thông qua các đơn vị lọc nhỏ gọi là nephron (cầu thận). Mỗi nephron bao gồm 1 quả bóng được hình thành từ các mao mạch máu nhỏ, được gọi là cầu thận và 1 ống nhỏ gọi là ống thận. Urê, cùng với nước và các chất thải khác, tạo thành nước tiểu khi nó đi qua các nephron và xuống ống thận. (2)

Niệu quản là 2 ống hẹp nối từ thận đến bàng quang, có chức năng vận chuyển nước tiểu từ thận đến bàng quang, ống niệu quản dài khoảng 25 – 30cm, đường kính trong là 2 – 3mm, đường kính ngoài là khoảng 4 – 5mm. Là một trong các cơ quan quan trọng trong hệ tiết niệu. Các cơ ở thành niệu quản liên tục co thắt và giãn ra, buộc nước tiểu đi xuống, rời khỏi thận. Nếu nước tiểu ứ đọng hoặc đọng lại, nhiễm trùng thận có thể phát triển. Khoảng 10 – 15 giây/lần, một lượng nhỏ nước tiểu được đổ vào bàng quang từ niệu quản.

Bàng quang là cơ quan rỗng, hình tam giác nằm ở vùng bụng dưới. Nó được giữ cố định bởi các dây chằng gắn liền với các cơ quan khác và xương chậu. Thành bàng quang giãn ra để chứa nước tiểu, đồng thời co lại và xẹp xuống để đẩy nước tiểu qua niệu đạo.
Bàng quang của người trưởng thành khỏe mạnh điển hình có thể lưu trữ tới khoảng 500ml nước tiểu trong 2 – 5 giờ. Tuy nhiên, khi lượng nước tiểu đạt mức 200 – 350ml, các dây thần kinh sẽ gửi tín hiệu về não và tủy sống, gây buồn tiểu. Khi đi tiểu, bàng quang sẽ co lại để đẩy nước tiểu qua niệu đạo, ra ngoài. Cấu tạo của bàng quang bao gồm:

Niệu đạo là 1 ống rỗng, cho phép nước tiểu đi ra ngoài cơ thể. Mỗi người có 2 cơ vòng niệu đạo để giữ nước tiểu khi không đi vệ sinh. Những cơ giống như vòng cao su, có thể mở ra và đóng lại để nước tiểu đi ra ngoài. Đôi khi, những cơ này yếu đi và người bệnh khó có thể nhịn tiểu được (tiểu không tự chủ, són tiểu).
Não báo hiệu các cơ bàng quang thắt chặt, giữ nước tiểu không thoát ra khỏi bàng quang. Đồng thời, não phát tín hiệu cho cơ vòng thư giãn để nước tiểu thoát ra khỏi bàng quang qua niệu đạo. Khi tất cả các tín hiệu xảy ra theo đúng thứ tự, việc đi tiểu bình thường sẽ xảy ra. (2)

Vai trò và chức năng của hệ tiết niệu là lọc máu và tạo ra nước tiểu dưới dạng chất thải phụ. Cơ thể lấy chất dinh dưỡng từ thức ăn và chuyển hóa chúng thành năng lượng. Sau khi cơ thể đã hấp thụ các thành phần dinh dưỡng cần thiết, các chất thải sẽ bị bỏ lại trong ruột và trong máu.
Thận và hệ tiết niệu giúp cơ thể loại bỏ urê, creatinin và giữ cân bằng các hóa chất như kali, natri và nước. Urê được sản xuất khi tiêu thụ các thực phẩm có chứa protein, như thịt đỏ, thịt gia cầm và một số loại rau, được phân hủy trong cơ thể. Urê được vận chuyển theo máu đến thận, nơi nó được loại bỏ cùng với nước và các chất thải khác dưới dạng nước tiểu.
Các chức năng quan trọng khác của thận bao gồm điều hòa huyết áp và sản xuất erythropoietin, chất kiểm soát việc sản xuất hồng cầu trong tủy xương. Thận cũng điều chỉnh sự cân bằng axit-bazơ và bảo tồn chất lỏng.
Tương tự với bất kỳ cơ quan nội tạng nào trong cơ thể, hệ tiết niệu với cấu tạo đặt biệt, có thể khiến hệ thống này đối mặt với các vấn đề về sức khỏe như:
Nhiễm trùng đường tiết niệu (còn gọi là nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm đường tiết niệu – UTI) là bệnh nhiễm trùng phổ biến xảy ra khi vi khuẩn, thường từ da hoặc trực tràng, xâm nhập vào niệu đạo và lây nhiễm vào đường tiết niệu. UTI là 1 trong những loại nhiễm trùng ngoại trú phổ biến nhất trên thế giới. Đường tiết niệu bao gồm đường tiết niệu trên và dưới. UTI có tên khác nhau tùy thuộc vào nơi chúng xảy ra. Ví dụ:
UTI là bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu do vi khuẩn có thể ảnh hưởng đến:
UTI được phân loại là “đơn giản” hoặc “phức tạp”. UTI đơn giản thường sẽ chỉ ảnh hưởng đến bàng quang. UTI phức tạp mô tả các bệnh nhiễm trùng kháng thuốc cần dùng thuốc mạnh hơn hoặc những bệnh ảnh hưởng đến thận. Theo nghiên cứu năm 2022, các nhóm có nguy cơ mắc UTI phức tạp cao hơn bao gồm:
Ngoài ra, tắc nghẽn và các vấn đề về chức năng thận có thể làm tăng nguy cơ phát triển UTI phức tạp. Viện Tiểu đường, Bệnh tiêu hóa và Thận Quốc gia (NIDDK) viết rằng nhiễm trùng bàng quang – UTI đơn giản – là loại phổ biến nhất. Nhìn chung, phụ nữ có nhiều khả năng mắc UTI hơn nam giới, với 40 – 60% phụ nữ bị nhiễm trùng ít nhất 1 lần trong đời và 10% phụ nữ bị nhiễm trùng tiểu mỗi năm 1 lần. Phụ nữ có nguy cơ cao hơn nam giới vì niệu đạo của họ ngắn hơn, khiến vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào bàng quang hơn.

Tiểu không tự chủ là tình trạng đi tiểu không chủ ý. Đó là vấn đề phổ biến được cho là ảnh hưởng đến hàng triệu người. Có một số loại tiểu không tự chủ, bao gồm:
Tiểu không tự chủ có thể là do các yếu tố căng thẳng, xảy ra trong và sau khi mang thai, nó phổ biến hơn với các tình trạng như béo phì. Nguy cơ tiểu không tự chủ tăng theo tuổi tác. Kiểm soát bàng quang và các bài tập cơ sàn chậu hay Kegel, có thể giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt tình trạng này. (4)
Sỏi tiết niệu (còn gọi là sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang) là những chất cặn cứng được tạo thành từ các khoáng chất và muối hình thành bên trong thận. Chế độ ăn uống, thừa cân, một số tình trạng sức khỏe, một số chất bổ sung và thuốc nhất định là 1 trong nhiều nguyên nhân gây ra sỏi thận.
Sỏi thận có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của đường tiết niệu, từ thận đến bàng quang. Thông thường, sỏi hình thành khi nước tiểu trở nên cô đặc, khiến các khoáng chất kết tinh và dính lại với nhau. Việc thải sỏi thận có thể khá đau đớn nhưng sỏi thường không gây tổn thương vĩnh viễn nếu được phát hiện và điều trị kịp thời.
Tùy thuộc vào tình trạng sỏi tiết niệu cụ thể, người bệnh có thể không cần gì hơn ngoài việc dùng thuốc giảm đau và uống nhiều nước để thải sỏi thận. Trong các trường hợp khác, ví dụ, như sỏi kẹt trong đường tiết niệu, có liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu hoặc gây biến chứng, có thể cần phải phẫu thuật.
Sau khi điều trị thành công, tỷ lệ tái phát sỏi niệu quản vẫn rất cao, tới 50% trong vòng 5 năm tới. Nam giới và người có tiền sử gia đình mắc bệnh sỏi có nguy cơ mắc sỏi cao gấp 3 lần so với dân số nói chung. Tuy nhiên, sự phân bổ giới tính trong bệnh sỏi đang thay đổi với các nghiên cứu mới hơn cho thấy tỷ lệ mắc sỏi ở nữ tăng gần như ngang bằng với nam. (5)
Suy thận có nghĩa là 1 hoặc cả 2 quả thận bị suy giảm chức năng. Nếu chức năng thận giảm xuống dưới 15% mức bình thường, đó là suy thận. Người bệnh có các triệu chứng do sự tích tụ các chất thải và nước dư thừa trong cơ thể, gây phù nề. Suy thận đôi khi chỉ là tạm thời và phát triển nhanh chóng (suy thận cấp tính). Đôi khi đó là tình trạng suy giảm chức năng kéo dài, dần dần trở nên tệ hơn mỗi ngày (suy thận mạn tính).
Bệnh tiểu đường và huyết áp cao là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh thận mạn tính và suy thận. Bệnh tiểu đường không được kiểm soát có thể dẫn đến lượng đường trong máu cao (tăng đường huyết). Lượng đường trong máu cao liên tục có thể làm hỏng thận cũng như các cơ quan khác.
Bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) là bệnh suy thận được điều trị bằng lọc máu hoặc ghép thận. Để thay thế chức năng thận đã mất, người bệnh có thể có 1 trong 3 lựa chọn điều trị: chạy thận nhân tạo, lọc màng bụng, ghép thận.
Có các giai đoạn bệnh thận tùy theo mức lọc cầu thận ước tính (eGFR). Chỉ số eGFR là phép tính xem thận lọc các chất tốt như thế nào. Mức eGFR bình thường là khoảng 100, eGFR thấp nhất là 0, nghĩa là chức năng thận không còn tồn tại. Các giai đoạn suy thận bao gồm:
Khi bị suy thận, 85% – 90% chức năng thận sẽ biến mất. Những người bị suy thận có bệnh thận mạn giai đoạn V (còn gọi là bệnh thận giai đoạn cuối hoặc ESKD) sẽ phải chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận để sống sót.

Viêm bàng quang là 1 dạng nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) thường tự khỏi mà không cần điều trị. Viêm bàng quang xảy ra khi vi khuẩn thường sống vô hại trên da hoặc trong ruột xâm nhập vào niệu đạo và bàng quang. Sau đó, vi khuẩn bám chặt vào niêm mạc bàng quang và khiến khu vực này bị kích thích và viêm.
Bàng quang là 1 phần của hệ tiết niệu, viêm bàng quang có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai, bất kể giới tính hay tuổi tác, phổ biến hơn ở phụ nữ. Một lý do giải thích cho điều này là phụ nữ có niệu đạo ngắn hơn và gần hậu môn hơn. Điều này làm cho vi khuẩn có thể xâm nhập vào bàng quang dễ dàng hơn.
Viêm bàng quang có thể là cấp tính hoặc viêm bàng quang kẽ (mạn tính). Viêm bàng quang cấp tính là viêm bàng quang xảy ra đột ngột. Viêm bàng quang kẽ có thời gian dài hơn. Nguyên nhân chính xác của viêm bàng quang kẽ vẫn chưa được biết rõ, các nhà nghiên cứu y khoa vẫn đang nỗ lực tìm hiểu về bệnh này.
Viêm niệu đạo cũng là bệnh về hệ tiết niệu thường gặp. Viêm niệu đạo là khi ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra khỏi cơ thể (niệu đạo) bị sưng và đau. Nguyên nhân thường do nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI). Viêm niệu đạo do lậu cầu là tình trạng nhiễm trùng do bệnh lậu gây ra. Viêm niệu đạo không do lậu cầu hoặc viêm niệu đạo không đặc hiệu thường phổ biến hơn, có nguyên nhân do nhiễm trùng nhưng không phải bệnh lậu, chẳng hạn như chlamydia.
Cả vi khuẩn và virus đều có thể gây viêm niệu đạo. Một số vi khuẩn gây ra tình trạng này bao gồm E.coli, chlamydia và Neisseria gonorrhoeae (lậu cầu). Những vi khuẩn này cũng gây nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) và một số bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Nguyên nhân do virus là virus herpes simplex và cytomegalovirus. Các nguyên nhân khác bao gồm:
Đôi khi, nguyên nhân gây viêm niệu đạo không xác định, được gọi là vô căn. Triệu chứng phổ biến nhất của viêm niệu đạo là tiết dịch niệu đạo, có mùi hôi hoặc tanh nồng.
Để duy trì hệ tiết niệu khỏe mạnh, các bác sĩ, chuyên gia tiết niệu khuyên mọi người nên:
Như vậy, hệ tiết niệu là tập hợp các cơ quan gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo, nằm ở vùng bụng dưới, chịu trách nhiệm lọc máu và chất thải, tạo thành nước tiểu và vận chuyển ra ngoài. Các bệnh đường tiết niệu thường gặp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hệ tiết niệu và toàn cơ thể. Vì vậy cần xây dựng lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ để chăm sóc hệ tiết niệu tốt nhất.
Chăm sóc sức khỏe hệ tiết niệu tại khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, BVĐK Tâm Anh TP.HCM và Đơn vị Tiết niệu, Trung tâm khám chữa bệnh Tâm Anh Quận 7. Tại đây có các bác sĩ chuyên khoa Tiết niệu giỏi và giàu kinh nghiệm, kết hợp cùng hệ thống trang thiết bị hiện đại, Trung tâm Xét nghiệm chuyên sâu, khép kín, mang xét nghiệm chuyên sâu, phân tích chức năng thận, phân tích máu,… để phát hiện sớm và điều trị các bệnh về hệ tiết niệu nhanh chóng, hiệu quả.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hy vọng với các thông tin bài viết vừa chia sẻ đã giúp bạn hiểu thêm về cấu tạo, vai trò, chức năng hệ tiết niệu và các bệnh phổ biến tại cơ quan này.