Hội chứng chèn ép khoang dưới mỏm cùng vai là một trong những nguyên nhân gây đau vai nhưng ít người biết đến. Bệnh thường gặp ở tuổi trung niên và cần được phát hiện, điều trị kịp thời để tránh những biến chứng nguy hiểm.

Mỏm cùng vai đóng vai trò bảo vệ phần trên khớp ổ chảo của cánh tay, là nơi bám của cơ thang ở trên, cơ Delta ở dưới và tiếp khớp với xương đòn, mặt dưới mỏm cùng vai tiếp giáp với túi hoạt dịch. Các cơ chóp xoay nằm ở phía dưới của túi hoạt dịch.

Hình dạng mỏm cùng vai được biết đến theo phân loại của Bigliani gồm 3 dạng: dạng 1 là loại mỏm cùng phẳng, dạng 2 là loại có hình cong và dạng 3 là có hình móc. Mỏm cùng dạng 2 và 3 có liên quan tới hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai, gây tổn thương gân chóp xoay tại vị trí mặt hoạt dịch. (1)
Khoang dưới mỏm cùng vai là khoang ảo nằm giữa mỏm cùng vai và chỏm xương cánh tay.

Hội chứng chèn ép mỏm cùng vai, còn được biết đến với tên hội chứng xung đột mỏm cùng vai (Subacromial Impingement Syndrome) là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị hẹp lại. Hiện tượng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai bao gồm: Viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay. Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh lý này là cảm giác khó chịu, kèm theo cơn đau vùng vai.
Nguyên nhân dẫn đến hẹp khoang dưới mỏm cùng vai là do chấn thương, hoặc do lặp đi lặp lại các động tác (đặc biệt hay gặp ở người chơi các môn thể thao phải đưa tay quá đầu hoặc người lao động thường xuyên có các động tác dạng tay quá đầu).
Nhóm các cơ chóp xoay kết hợp với nhau tạo thành 1 gân rất chắc bám vào đầu trên xương cánh tay gọi là gân cơ chóp xoay. Khi dạng cánh tay quá đầu, các cơ trượt trong khoang dưới mỏm cùng vai. Trong khoang có các gân chóp xoay và các túi hoạt dịch, giúp bôi trơn và hỗ trợ gân cơ chóp xoay di chuyển. Khi khoang này bị thu hẹp, gân cơ chóp xoay và các túi hoạt dịch bị chèn ép, từ đó dẫn đến viêm túi hoạt dịch, viêm gân chóp xoay, thậm chí rách chóp xoay.
Rách cơ chóp xoay vai là một trong những tổn thương vùng vai thường gây ra tình trạng hạn chế vận động của vùng vai, thậm chí thoái hóa khớp sớm ở người trẻ tuổi.
Một nguyên nhân khác là do sự xuất hiện của các chồi xương trong tổn thương của bệnh lý thoái hoá.
Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, bệnh nhân có các biểu hiện như:
Các cơn đau sẽ tăng dần theo thời gian khiến bệnh nhân không thể cử động vai, dẫn đến hiện tượng cứng khớp vai.
Để kiểm tra toàn diện và chẩn đoán chính xác hội chứng chèn ép mỏm cùng vai, bác sĩ có thể kết hợp các phương pháp:
Các bác sĩ Trung tâm Phẫu thuật khớp và Y học thể thao BVĐK Tâm Anh đang hội chẩn một ca bệnh thông qua hình ảnh chụp phim X-quang.
Tùy theo mức độ chấn thương, bác sĩ có thể lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp:
Giai đoạn đầu sẽ là điều trị giảm đau, kháng viêm. Bên cạnh đó, người bệnh cần nghỉ ngơi, chườm đá, kết hợp sử dụng thuốc kháng viêm như aspirin, naproxen, diclofenac… Trong một số trường hợp đặc biệt, các phương pháp như siêu âm, chiếu tia hồng ngoại sẽ được áp dụng nhằm tăng cường lượng máu cho các mô ở khớp vai.
Sau khi có dấu hiệu giảm các cơn đau, người bệnh sẽ được vật lý trị liệu. Chương trình phục hồi chức năng bao gồm duy trì tầm vận động, tăng cường sức mạnh cơ Delta, sự ổn định xương bả vai và cơ chóp xoay.
Phương pháp phẫu thuật được chỉ định khi các phương pháp điều trị điều trị bảo tồn không giúp cải thiện đáng kể sau từ 6 tháng đến 1 năm. Có hai phương pháp phẫu thuật phổ biến hiện nay là mổ mở và mổ nội soi.
Ngày nay, kỹ thuật phẫu thuật nội soi phổ biến hơn do những đặc tính ưu việt trong việc cải thiện các triệu chứng đau và tính thẩm mỹ. Theo báo cáo, tỷ lệ thành công của điều trị nội soi mài tạo hình khoang dưới mỏm cùng vai đạt hiệu quả từ 70-90%. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thành công khi nguyên nhân bệnh lý là do yếu tố bên ngoài, chứ không phải yếu tố bên trong.
Mục tiêu của phẫu thuật nhằm nới rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay với phương pháp làm sạch các tổn thương do thoái hóa, các chồi xương cùng một phần mỏm cùng vai và phục hồi tổn thương rách chóp xoay nếu có.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Sau phẫu thuật, cánh tay sẽ được giữa bất động bằng cách treo hay mang nẹp. Hầu hết các trường hợp bệnh nhân sẽ được tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp, hạn chế phù nề sau mổ. Chườm lạnh sau mổ giúp co mạch máu giúp hạn chế phản ứng viêm đau sau mổ. Sau đó, người bệnh bắt đầu tập mạnh gân cơ chóp xoay. Người bệnh cần tập phục hồi chức năng theo sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.