Bệnh Wilson (hay rối loạn chuyển hóa đồng) ít gặp nhưng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh. Vậy, rối loạn chuyển hóa đồng Wilson là gì? Có chữa được không?

Bệnh Wilson là một bệnh di truyền ít gặp với tần suất khoảng 1/30.000 người. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng rối loạn chuyển hóa đồng, khiến khoáng chất này tích tụ quá mức trong gan, não, mắt và các mô khác. Bệnh thường khởi phát triệu chứng trong độ tuổi 5 – 40 tuổi, nhưng có thể khởi phát sớm hoặc muộn hơn ở một số trường hợp. Nếu không điều trị kịp thời, lượng đồng lắng đọng lâu ngày có thể gây tổn thương các cơ quan, đe dọa tính mạng của người bệnh.(1)

Do lượng đồng tích tụ quá mức ở nhiều cơ quan nên biểu hiện của bệnh khá đa dạng. Trong đó, các triệu chứng ảnh hưởng chủ yếu đến các cơ quan gồm:(2)
Viêm gan là dấu hiệu thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Một số trường hợp có thể bị tổn thương gan nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, làm tăng nguy cơ dẫn đến xơ gan hoặc suy gan cấp. Triệu chứng ở gan của bệnh có thể bao gồm:
Bệnh Wilson ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, gây ra những triệu chứng về tâm thần kinh, đặc biệt ở người trưởng thành. Các biểu hiện thường gặp gồm:

Người bệnh Wilson có thể gặp tình trạng xuất hiện vòng màu xanh lá, xanh xám, nâu hoặc vàng quanh giác mạc ngoại vi, phủ lên mống mắt. Vòng này gọi là vòng Kayser-Fleischer (KF), hình thành do sự tích tụ đồng trong màng Descemet của giác mạc. Ở giai đoạn đầu, vòng KF thường được phát hiện nhờ kiểm tra bằng đèn khe soi đáy mắt. Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển nặng, chúng có thể được nhận thấy bằng mắt thường, đặc biệt là ở người bị loạn sắc tố mống mắc và quá tải đồng nghiêm trọng.
Dù là triệu chứng thường gặp, vòng Kayser-Fleischer không hoàn toàn đặc hiệu do có thể xảy ra trong một số bệnh khác như viêm đường mật nguyên phát. Tuy nhiên, dấu hiệu này vẫn đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán. Khoảng 95% trường hợp có biểu hiện thần kinh của bệnh xuất hiện vòng KF, trong khi khoảng 50% trường hợp chỉ tổn thương gan cũng có thể gặp triệu chứng này.(3)
Bệnh còn ảnh hưởng đến một số cơ quan khác và gây ra những triệu chứng như:
Bệnh xảy ra do sự đột biến ở gen ATP7B nằm trên nhiễm sắc thể 13. Đây là gen cung cấp hướng dẫn để tạo ra protein ATPase 2 làm nhiệm vụ vận chuyển và đào thải lượng đồng dư thừa ra khỏi cơ thể. Gen bị biến đổi khiến ATPase 2 không thể hoạt động bình thường, khiến đồng tích tụ quá mức. Hậu quả gây tổn thương các mô và cơ quan như gan, não và mắt, dẫn đến bệnh Wilson.(4)

Bệnh Wilson là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Điều này có nghĩa rằng trẻ có nguy cơ mắc bệnh nếu nhận cả 2 gen ATP7B bất thường từ bố và mẹ. Người chỉ mang 1 gen bất thường từ bố hoặc mẹ không khởi phát triệu chứng. Tuy nhiên, trường hợp này được gọi là người mang gen bệnh và có thể truyền lại cho con cái tùy thuộc vào đặc điểm di truyền của bạn đời.
Người mắc bệnh vẫn có thể sinh con nếu được chẩn đoán sớm và tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Xét nghiệm di truyền và sàng lọc các yếu tố nguy cơ trước khi có ý định mang thai giúp giảm thiểu nguy cơ lây truyền bệnh cho con cái.
Người bệnh vẫn có thể sống với tuổi thọ bình thường nếu được phát hiện, chẩn đoán và tuân thủ phác đồ điều trị lâu dài. Tuy nhiên, nếu không điều trị sớm hoặc tự ý ngưng điều trị, bệnh có thể diễn tiến nặng, đe dọa tính mạng. Phần lớn trường hợp tử vong xảy ra do các biến chứng liên quan như:
Bệnh khiến đồng tích tụ ở các mô trong cơ thể mà đầu tiên là ở gan. Điều này dẫn đến tổn thương tế bào gan với tốc độ tiến triển khác nhau tùy theo từng trường hợp. Về lâu dài có thể dẫn đến suy gan cấp, đặc biệt phổ biến ở nữ dưới 22 tuổi. Những triệu chứng thường gặp có thể gồm vàng da, dễ chảy máu, run rẩy không rõ nguyên nhân…
Trường hợp tổn thương gan tiến triển chậm có thể gây viêm gan mạn tính, xơ hóa gan và xơ gan. Bệnh kéo dài dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như cổ trướng, phù chi dưới, lách to, hội chứng gan thận, xuất huyết tĩnh mạch thực quản, bệnh não gan.

Bệnh có thể làm tổn thương não, đặc biệt là vùng hạch nền và tiểu não. Tình trạng này có thể dẫn đến hội chứng giả Parkinson (pseudoparkinsonism), xơ cứng giả hiệu (pseudosclerosis) và rối loạn nhịp tim – tăng động (arrhythmia – hyperkinesia). Bệnh tiến triển đến hệ thần kinh trung ương có thể gây ra các vấn đề về vận động và kiểm soát thần kinh cơ như giảm vận động, múa giật, loạn trương lực cơ, khó nuốt, rối loạn dáng đi, cứng cơ và động kinh (ít gặp).
Người mắc bệnh có nguy cơ bị trầm cảm, suy giảm nhận thức, rối loạn tâm trạng… Một số trường hợp có thể gặp các cơn loạn thần nhưng ít gặp.
Tình trạng rối loạn chuyển hóa đồng còn ảnh hưởng đến những cơ quan khác như:
Một người có thể bị nghi ngờ mắc bệnh Wilson trong những trường hợp như:(5)
Việc chẩn đoán không thể dựa vào xét nghiệm đơn lẻ mà đòi hỏi kết hợp nhiều phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng gồm:
Chưa có phương pháp đặc trị nhưng có thể kiểm soát bệnh nếu phát hiện và can thiệp kịp thời. Quá trình điều trị cần được thực hiện kéo dài, kể cả khi không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Điều này giúp giảm lượng đồng dư thừa, ngăn ngừa tổn thương nội tạng và kiểm soát triệu chứng. Việc tự ý ngưng điều trị có thể dẫn đến biến chứng suy gan cấp. Những phương pháp điều trị có thể gồm:
Bệnh Wilson là một rối loạn di truyền nên không thể phòng ngừa bằng những biện pháp thông thường như thay đổi lối sống hoặc chế độ dinh dưỡng. Tuy nhiên, có thể hạn chế nguy cơ trẻ mắc bệnh bằng cách xét nghiệm sàng lọc trước khi sinh hoặc có ý định mang thai, đặc biệt trong trường hợp gia đình từng có người mắc bệnh.
Hãy đến gặp bác sĩ ngay khi nhận thấy những biểu hiện bất thường về gan hoặc tâm thần kinh mà không rõ nguyên nhân. Đặc biệt là trong trường hợp gia đình có thành viên từng mắc bệnh. Người bệnh nên thăm khám càng sớm càng tốt nếu nhận thấy triệu chứng trở nên trầm trọng hơn trong quá trình điều trị.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh Wilson khiến quá trình chuyển hóa đồng bị gián đoạn và tích tụ chủ yếu ở gan, não, mắt. Tuy gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nhưng bệnh có thể được kiểm soát nếu phát hiện sớm và điều trị đúng cách. Nếu nhận thấy bất cứ triệu chứng bất thường nào, người bệnh nên thăm khám càng sớm càng tốt để được chẩn đoán và can thiệp kịp thời.