Dị tật thiếu ngón tay là hội chứng hiếm gặp ở trẻ sơ sinh. Tật thiếu ngón mặc dù không tác động nghiêm trọng tới sức khỏe tổng thể, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng đến chức năng tay và tâm lý của trẻ khi giao tiếp, sinh hoạt với mọi người.

Dị tật thiếu ngón tay là thuật ngữ y khoa chỉ một dị tật bẩm sinh hiếm gặp ở trẻ sơ sinh. Đây là hiện tượng một hoặc nhiều ngón tay bị dính, biến dạng, thiếu một phần hoặc cả ngón ngay từ khi sinh ra, thông thường trường hợp này chỉ xảy ra ở 1 bên tay của trẻ.
Bất thường chi này có thể xuất hiện ở bất kỳ đứa trẻ nào, tuy nhiên chỉ khoảng 1/32.000 trẻ sơ sinh bị thiếu ngón tay. Bàn tay bị thiếu ngón có thể ảnh hưởng đến hình dáng bàn tay và khả năng hoạt động của tay. Do đó phụ huynh nên cho trẻ can thiệp y tế sớm để nâng cao tỷ lệ hồi phục sau điều trị. (1)

Trong quá trình phát triển ở tử cung, có một số nguyên nhân khiến lưu lượng máu đến ngón tay của thai nhi bị gián đoạn gây nên tình trạng thiếu ngón. Dị tật thiếu ngón tay được chia thành các dạng dưới đây: (2)
Thiếu đốt ngón tay là một trong những biến thể phổ biến nhất của tật thiếu ngón. Đặc điểm chính của dị tật này là ngón tay bị thiếu một hoặc nhiều đốt xương, dẫn đến ngắn hơn so với bình thường.
Đây là tình trạng các ngón tay ở giữa (trừ ngón út và ngón cái) không phát triển hoặc phát triển không đầy đủ. Điều này khiến trẻ gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động liên quan đến tay.
Dị tật thiếu 4 ngón, trừ ngón cái là một trong những biến thể hiếm gặp của dị tật ngón tay. Trong trường hợp này, chỉ có ngón cái là ngón phát triển hoàn chỉnh, trong khi các ngón còn lại có thể thiếu xương, cơ hoặc các mô khác.
Đây là dạng dị tật nghiêm trọng của thiếu ngón tay. Điều này xảy ra khi tất cả các ngón tay đều bị thiếu hoặc chỉ có 4 ngón phát triển bình thường và thiếu mỗi ngón cái. Dạng dị tật này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hoạt động và cầm nắm của trẻ.
Trong một vài trường hợp, tật thiếu ngón tay có thể là một phần của hội chứng di truyền Ba Lan (là một dạng bẩm sinh hiếm gặp). Điều này gây ra tình trạng cơ ngực kém phát triển và bất thường các chi ở một bên của cơ thể.
Đây là nguyên nhân hiếm gặp của hội chứng này.
Theo các chuyên gia, nguyên nhân gây dị tật thiếu ngón tay thường không đến từ di truyền hay bất thường gen như một số bệnh lý về tay khác. Thông thường hội chứng này gây ra bởi sự gián đoạn trong quá trình phát triển trong bụng mẹ.
Khi thai nhi bắt đầu hình thành các chi ở khoảng tuần thứ 7, bàn tay của trẻ có hình dạng giống những chiếc mái chèo. Trong quá trình phát triển, bàn tay sẽ được phân chia và hình thành các ngón tay. Tuy nhiên quá trình này có thể bị gián đoạn, ảnh hưởng bởi một tác nhân nào đó khiến bàn tay không nhận đủ lưu lượng máu cần thiết, gây nên tật thiếu ngón tay.
Trẻ được sinh ra với các ngón tay ngắn và/hoặc thiếu ngón ở một bàn hoặc cả 2 bàn tay, tuy nhiên thông thường dị tật thiếu ngón chỉ xuất hiện ở một bên tay. Các dấu hiệu nhận biết bao gồm: (3)
Theo các chuyên gia, dị tật thiếu ngón tay không ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cơ thể. Tuy nhiên nó có thể gây ra một số tác động tiêu cực đến trẻ như:

Chẩn đoán tật thiếu ngón tay có thể được thực hiện ngay từ giai đoạn mẹ đang mang thai hoặc sau khi trẻ chào đời. Các phương pháp chẩn đoán phổ biến cho hội chứng này bao gồm: (4)
Phương pháp điều trị thiếu ngón tay được quyết định dựa trên mức độ nghiêm trọng của hội chứng và độ tuổi của trẻ. Dưới đây là một số liệu pháp thường được ứng dụng cho điều trị hội chứng thiếu ngón tay. (5)
Phẫu thuật là phương pháp thường được chỉ định trong điều trị tật thiếu ngón tay. Tùy vào tình trạng cụ thể mà bác sĩ sẽ xác định phương pháp phẫu thuật phù hợp cho từng đối tượng. Tuy nhiên phẫu thuật chỉ nên thực hiện cho trẻ từ 1-2 tuổi trở lên. Mục đích chính của phẫu thuật là giúp trẻ có thể thực hiện được chức năng cầm nắm và sửa chữa hình dáng của tay. Một số thủ thuật phổ biến trong điều trị thiếu ngón tay gồm:
Trong một số trường hợp, trẻ bị thiếu ngón tay chỉ cần đeo nẹp, gắn ngón giả hoặc công cụ hỗ trợ khác để củng cố các phần ngón tay bị thiếu, giúp cầm nắm và thực hiện chức năng cơ bản một cách tốt nhất có thể. Ngoài ra, trẻ sẽ được hướng dẫn tập vật lý trị liệu để học cách sử dụng tay trong các hoạt động thường ngày như mặc quần áo, tắm rửa, ăn uống, vui chơi…
Các phương pháp điều trị tiên tiến cho phép bác sĩ chỉnh hình và tái tạo các ngón tay bị thiếu một cách hiệu quả. Nhờ vào sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trẻ sơ sinh có thể được điều trị từ rất sớm, thậm chí ngay sau sinh giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
Tuy nhiên khả năng phục hồi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng bệnh lý, khả năng đáp ứng của trẻ, phương pháp điều trị, bác sĩ thực hiện… Để tăng tỷ lệ thành công và khả năng hồi phục, gia đình cần chọn cơ sở y tế lớn để thực hiện và tuân thủ các hướng dẫn về chăm sóc cho trẻ sau điều trị.
Dị tật thiếu ngón tay gần như không thể phòng ngừa hoàn toàn. Tuy nhiên để hạn chế tình trạng này, thai phụ nên tránh các hoạt động tiêu cực như uống rượu, hút thuốc, đứng cạnh người hút thuốc, sử dụng chất kích thích…
Trong quá trình mang thai, thai phụ cũng cần xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học, cân bằng và đầy đủ; cố gắng giữ tâm lý thoải mái, vui vẻ, không nên căng thẳng quá mức.
Gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thai phụ trong các hoạt động thường ngày. Không nên để thai phụ làm việc nặng, vận động quá mức cho phép, tránh tác động tiêu cực lên thai nhi.
Dưới đây là một số lưu ý trong quá trình chăm sóc trẻ bị dị tật thiếu ngón tay:

Để đặt lịch thăm khám, tư vấn về sức khỏe, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp qua:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Dị tật thiếu ngón tay là hội chứng ảnh hưởng rất lớn tới trẻ trong giai đoạn phát triển. Trường hợp phát hiện trẻ có các dấu hiệu của hội chứng này, người nhà nên đưa trẻ đến đến bệnh viện lớn để trẻ có cơ hội được điều trị sớm một cách an toàn, hiệu quả.