Đời sống hồng cầu (thời gian tồn tại của hồng cầu) là yếu tố quan trọng, góp phần phản ánh sức khỏe của một người. Vậy hồng cầu sống bao lâu, điều gì ảnh hưởng đến thời gian sống của hồng cầu và đâu là phương pháp giúp duy trì sự ổn định của hồng cầu?

Theo nghiên cứu, ở người bình thường, đời sống hồng cầu hay thời gian tồn tại của tế bào hồng cầu là khoảng 120 ngày, sau đó sẽ bị đại thực bào tiêu hủy, trung bình có khoảng 5 triệu tế bào hồng cầu được loại bỏ khỏi hệ tuần hoàn mỗi giây. (1)
Hiện chưa có báo cáo chính xác về cách đại thực bào nhận diện các tế bào hồng cầu già để tiêu hủy. Cơ chế này có thể đến từ việc trong quá trình già đi, tế bào hồng cầu có một số thay đổi lý hóa nhất định và một trong các thay đổi này như một dấu hiệu để đại thực bào nhận biết tế bào hồng cầu đã già và cần loại bỏ.

Quá trình tạo hồng cầu được kích thích bởi hormone erythropoietin (EPO), do thận tiết ra để đáp ứng với tình trạng thiếu oxy của cơ thể. Ngay từ khi còn là thai nhi, quá trình tạo hồng cầu đã bắt đầu diễn ra, cụ thể: Tuần thứ 3 hồng cầu bắt đầu được tạo từ túi noãn tràng, sang tháng thứ 2 – tháng thứ 3 quá trình này diễn ra ở gan và lá lách của thai nhi, qua tháng thứ 5 diễn ra ở tủy xương của thai nhi.
Khi chúng ta chào đời, quá trình tạo hồng cầu sẽ tiếp tục diễn ra bên trong tủy xương của nhiều loại xương. Khi trưởng thành, quá trình này chỉ diễn ra ở một số tủy xương nhất định (xương chậu, đốt sống, xương sườn, xương ức). Ở người trưởng thành có sức khỏe ổn định, tế bào hồng cầu được tạo liên tục với tốc độ cao, khoảng 2 triệu tế bào mỗi giây.
Quá trình tạo hồng cầu thường diễn ra trong khoảng 7 ngày và các tế bào này tồn tại trong khoảng 120 ngày, sau đó lão hóa và bị tiêu hủy. Vòng đời của một tế bào hồng cầu cụ thể như sau: Tiền hồng cầu → nguyên hồng cầu ưa base → nguyên hồng cầu đa sắc → nguyên hồng cầu ưa axit → hồng cầu lưới → hồng cầu → hồng cầu bị đại thực bào tiêu hủy. (2)
Hồng cầu sống được bao lâu, có thể bị tác động bởi yếu tố nào? Đời sống trung bình hồng cầu là 120 ngày, tuy nhiên thời gian này có thể thay đổi khi chịu ảnh hưởng từ một số yếu tố sau:
Dinh dưỡng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong duy trì sức khỏe, trong đó có sức khỏe hồng cầu. Trong giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất hồng cầu, các hồng cầu chưa trưởng thành cần hấp thụ sắt, vitamin B12 và axit folic. Việc thiếu hụt bất kỳ vi chất nào trong số đó đều có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hồng cầu, gây ra tình trạng thiếu máu cũng như ảnh hưởng đến đời sống hồng cầu.
Các bệnh lý huyết học như thiếu máu hồng cầu hình liềm, bệnh Thalassemia, thiếu máu do tủy giảm sinh, thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc axit folic… cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng hồng cầu, một trong những yếu tố khiến đời sống hồng cầu ngắn hơn bình thường.
Cuối cùng, vòng đời của hồng cầu có thể bị ảnh hưởng bởi tác động từ môi trường và lối sống của một người. Người thường xuyên hút thuốc, uống rượu; tiếp xúc với chất độc hại; thức khuya; stress kéo dài… sức khỏe hệ tuần hoàn máu có thể không đảm bảo, biểu hiện qua sự suy giảm đời sống hồng cầu.

Để xác định được đời sống hồng cầu, các nhà khoa học đã nghiên cứu và áp dụng rất nhiều phương pháp. Nhìn chung, có 2 phương pháp chính được ứng dụng trong đo tuổi thọ hồng cầu, gồm:
Để hỗ trợ cải thiện sức khoẻ hồng cầu, mỗi người cần duy trì lối sống khoa học, bao gồm:
Như đã đề cập, dinh dưỡng có sự tác động nhất định đến vòng đời của hồng cầu. Vì vậy, để duy trì đời sống hồng cầu ổn định và hỗ trợ quá trình sản sinh hồng cầu, mỗi người cần xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học, ưu tiên các nhóm thực phẩm có lợi cho sức khỏe hồng cầu như:
Bên cạnh chế độ dinh dưỡng, người dân cũng cần điều chỉnh lối sống phù hợp để đảm bảo đời sống hồng cầu được duy trì ổn định, cụ thể:

HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Như vậy, đời sống hồng cầu bình thường là bao lâu, yếu tố ảnh hưởng cùng những vấn đề liên quan đã được giải đáp cơ bản trong bài viết. Để tăng cường sức khỏe hồng cầu, mỗi người cần điều chỉnh chế độ ăn uống, lối sống kết hợp khám sức khỏe định kỳ tại BVĐK Tâm Anh nhằm tầm soát và can thiệp điều trị sớm các bệnh lý liên quan nếu có.