Ung thư vú HER2 âm tính chiếm khoảng 78% tổng số trường hợp ung thư vú [1]. Xét nghiệm protein HER2 giúp xác định các phương pháp điều trị cho người bệnh. Vậy ung thư vú âm tính her2 có nguy hiểm không? Dấu hiệu và chẩn đoán như thế nào? Bài viết sau đây của bác sĩ CKI Đỗ Anh Tuấn, Khoa Ngoại Vú, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM sẽ giải đáp chi tiết loại bệnh này.

Ung thư vú HER2 âm tính là dạng ung thư có lượng protein HER2 thấp hoặckhông có. HER2 là một loại protein tồn tại trên bề mặt của tất cả các tế bào vú, hỗ trợ sự phát triển và sửa chữa tế bào bình thường. Thụ thể HER2 còn tồn tại trên cả tế bào ung thư (ác tính). Các tế bào ung thư vú dương tính với HER2 có thể có số lượng thụ thể nhiều hơn tới 100 lần so với các tế bào vú bình thường hoặc âm tính với HER2.
Có 2 nhóm ung thư vú HER2 âm tính, được xác định bởi dấu ấn sinh học của thụ thể hormone (HR) với estrogen và progesterone.
Theo thời gian, một số bệnh ung thư vú dương tính với HER2 có thể trở nên âm tính với HER2 và ngược lại. Điều này có thể xảy ra khi ung thư tái phát. Do đó, sinh thiết thường được áp dụng để kiểm tra lại tình trạng HER2 khi ung thư tái phát sau điều trị.

Ung thư vú HER2 âm tính có nguy hiểm hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tiên lượng cho người bệnh ung thư vú HER2 âm tính thay đổi tùy vào đặc điểm và tình trạng tổng thể của người bệnh.
Những phụ nữ mắc bệnh ung thư vú dương tính với HR, HER2 âm tính có tiên lượng sống tốt nhất. Tỷ lệ sống thấp nhất ở người bệnh ung thư vú bộ ba âm tính.
Theo Viện Ung thư Quốc gia, yếu tố quan trọng nhất quyết định tiên lượng sống là giai đoạn chẩn đoán, cụ thể:
Nếu mắc ung thư vú HER2 âm tính, HR dương tính, tỷ lệ sống tương đối trong 5 năm, dựa trên giai đoạn ung thư khi chẩn đoán, cụ thể như sau [2]:
Với ung thư vú âm tính HER2, HR âm tính, tỷ lệ sống tương đối sau 5 năm như sau:

Các triệu chứng của ung thư vú âm tính HER2 không khác biệt nhiều so với các triệu chứng của các nhóm ung thư vú khác. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:
Mặc dù những triệu chứng này có thể xảy ra với tất cả các loại ung thư vú nhưng cũng có thể liên quan đến các tình trạng vú không phải ung thư. Người bệnh nên đến khoa Ngoại vú khám nếu gặp các triệu chứng trên càng sớm càng tốt.
Sau khi được chẩn đoán, ung thư vú HER2 âm tính có xu hướng phát triển chậm hơn, ít lây lan và tái phát hơn ung thư vú dương tính với HER2.
Nguyên nhân chính xác gây ung thư vú vẫn chưa rõ ràng. Di truyền, thói quen sinh hoạt và các yếu tố môi trường có thể góp phần làm tăng nguy cơ tiến triển ung thư vú.
Có tới 10% trường hợp ung thư vú do khiếm khuyết gen di truyền, được truyền từ cha mẹ sang con. Các khiếm khuyết ở BRCA1 (gen ung thư vú số 1) hoặc BRCA2 (gen ung thư vú số 2) là nguyên nhân gây hầu hết các loại ung thư vú di truyền. [3]
Gen HER2 không nằm trong số các gen bất thường liên quan đến các loại ung thư vú di truyền.
Có người thân mắc một loại ung thư vú sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú nhưng không ảnh hưởng đến nguy cơ mắc cùng loại ung thư vú có cùng nhóm HER2.

Một số biến chứng, rủi ro của ung thư vú HER2 âm tính tương tự như các nhóm ung thư vú khác như:
Biến chứng của ung thư di căn:
Ung thư vú HER2 âm tính thường tiến triển và di căn chậm hơn so với ung thư vú HER2 dương tính. Tuy nhiên, nếu không được điều trị, khối u có thể xâm chiếm các hạch bạch huyết gần đó và di căn đến các phần khác của cơ thể.
Các vị trí di căn thường gặp và triệu chứng tương ứng bao gồm:
Chẩn đoán ung thư vú HER2 âm tính thường được xác định sau khi người bệnh được chẩn đoán xác định mắc ung thư vú.
Loại xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán ung thư vú phụ thuộc vào các triệu chứng của người bệnh. Các kỹ thuật phổ biến nhất để chẩn đoán ung thư vú bao gồm:
Khi ung thư vú được xác định, bác sĩ sẽ sử dụng một trong các xét nghiệm sau đây trên mẫu mô vú được lấy ra trong quá trình sinh thiết để xác định tình trạng HER2:
Xét nghiệm IHC được sử dụng phổ biến nhất để xác định xem tế bào ung thư có thụ thể HER2 và/hoặc thụ thể hormone trên bề mặt hay không.

Xét nghiệm FISH kiểm tra mô ung thư vú, đánh giá sự khuếch đại của gen HER2 nhằm xác định xem ung thư HER2 âm tính hay dương tính.

Kết quả xét nghiệm HER2 giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất.
Hiện vẫn chưa xác định được xét nghiệm này có chính xác hơn xét nghiệm kia hay không, nhưng FISH có chi phí thực hiện cao hơn và mất nhiều thời gian hơn để có kết quả nên IHC được thực hiện trước tiên.
Kết quả IHC là 0 và 1+ nghĩa là ung thư vú HER2 âm tính và không đáp ứng điều trị bằng thuốc sinh học nhắm vào HER2.
Xác định tình trạng HER2 trong chẩn đoán ung thư vú là yếu tố quan trọng trong việc xác định phương pháp điều trị thích hợp nhất. Phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bệnh ung thư vú âm tính HER2 thường phụ thuộc vào tình trạng của người bệnh. Những yếu tố khác bao gồm: giai đoạn bệnh, tình trạng xâm lấn, di căn và tình trạng mãn kinh của người bệnh.
Điều trị ung thư vú HER2 âm tính thường bắt đầu bằng phẫu thuật điều trị, có thể liên quan đến một trong các kỹ thuật sau:
Với ung thư vú HR dương tính/HER2 âm tính, người bệnh có thể phải hóa trị cùng với liệu pháp nội tiết. Điều đó phụ thuộc vào giai đoạn, mức độ ung thư và các đặc điểm khác. Việc bổ sung hóa trị có thể giảm nguy cơ ung thư tái phát.
Bác sĩ sẽ dựa vào độ tuổi và sức khỏe của người bệnh, cân nhắc lợi ích và rủi ro để cân nhắc thực hiện hóa trị. Nếu ung thư vú bộ ba âm tính, người bệnh có thể phải phẫu thuật trước hoặc sau hóa trị.
Tùy vào giai đoạn bệnh, thể trạng, loại phẫu thuật, mong muốn của người bệnh (có chỉ định xạ trị sau mổ). Xạ trị góp phần kiểm soát bệnh và hạn chế tái phát.
Trong ung thư HER2 âm tính, HR dương tính, liệu pháp hormone thường được sử dụng để ngăn chặn hormone thúc đẩy sự phát triển của ung thư. Những phương pháp điều trị này bao gồm:
Điều trị ung thư vú HER2 âm tính cũng có thể bao gồm các liệu pháp nhắm đích, nhắm vào các gen, protein hoặc môi trường mô cụ thể góp phần vào sự phát triển của ung thư. Các lựa chọn bao gồm một hoặc nhiều phương pháp điều trị sau:
Liệu pháp miễn dịch bao gồm Tecentriq (atezolizumab) hoặc Keytruda (pembrolizumab) với ung thư vú bộ ba âm tính (HER2 âm tính, HR âm tính) hoặc Trodelvy (sacituzumab govitecan) với ung thư vú dương tính với HR và HER2 âm tính.

Khám, điều trị & chăm sóc giảm nhẹ tại khoa Ngoại Vú – BVĐK Tâm Anh với hệ thống trang thiết bị hiện đại, đội ngũ chuyên gia nhiều kinh nghiệm, làm việc phối hợp đa chuyên khoa như Ngoại Vú – Chẩn đoán hình ảnh – Giải phẫu bệnh – Nội khoa Ung thư, mang đến nhiều cơ hội điều trị cho người bệnh.
Bên cạnh đó, khoa Ngoại Vú – BVĐK Tâm Anh còn:
Ung thư vú HER2 âm tính không thể phòng ngừa hoàn toàn nhưng có những cách giúp giảm nguy cơ và phát hiện sớm bệnh. Cụ thể:
Tự khám vú định kỳ để phát hiện những bất thường hoặc khối u. Thực hiện theo các hướng dẫn tầm soát được đề xuất:
Nếu đang cân nhắc sử dụng HRT để điều trị các triệu chứng mãn kinh, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về những rủi ro và lợi ích. Sử dụng lâu dài HRT kết hợp estrogen và progestin có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú.
Nuôi con bằng sữa mẹ có thể giúp giảm nguy cơ ung thư vú.
Một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc điều chế thụ thể estrogen chọn lọc (SERM) như tamoxifen hoặc raloxifene, có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú ở những người có nguy cơ cao.
Việc phát hiện sớm và tầm soát thường xuyên đóng vai trò quan trọng trong việc xác định ung thư vú ở giai đoạn đầu. Hỏi ý kiến bác sĩ để có kế hoạch phòng ngừa được cá nhân hóa dựa trên các yếu tố rủi ro của bạn.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tình trạng HER2 giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp. Ung thư vú HER2 âm tính có hàm lượng protein HER2 thấp hoặc không có. Các phương pháp điều trị nhắm vào thụ thể HER2 không ảnh hưởng đến ung thư vú âm tính HER2. Việc điều trị sẽ thuận lợi hơn khi bệnh được phát hiện sớm nên việc tầm soát rất quan trọng.