
Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát (PSP) là tình trạng khí tràn màng phổi hoặc phổi bị xẹp ở người không có bệnh lý về phổi trước đó. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thêm thông tin về bệnh PSP, bao gồm nguyên nhân, các triệu chứng và phương pháp điều trị bệnh cho hiệu quả tối ưu hiện nay.

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát. Tuy nhiên, đối tượng, nguy cơ chính thường bao gồm:
Ngoài những yếu tố nguy cơ có thể gây khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát thì nguyên nhân gây bệnh thường ở người mắc bệnh phổi. Thường là liên quan đến vỡ bóng hoặc kén khí ở người bệnh bị phổi tắc nghẽn mạn tính, mức độ nặng.
Các triệu chứng của bệnh tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát giai đoạn đầu thường không rõ ràng. Tuy nhiên, các dấu hiệu sớm thường bao gồm:

Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát xảy ra ở người không có bệnh về phổi như lao phổi, viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus… thì không có khả năng lây nhiễm từ người này sang người khác.
Tuy nhiên, tràn khí màng khổi xuất phát từ lao phổi: Lao phổi – bệnh có khả năng lây lan nhanh từ người này sang người khác khi nói chuyện, ho, hắt hơi hoặc dùng chung bát đĩa,… Do đó, nếu người bệnh bị tràn khí ở màng phổi do lao phổi sẽ có khả năng lây nhiễm cao, cần có kế hoạch điều trị và cách ly để tránh lây nhiễm cho người thân, và những người xung quanh.
Chẩn đoán khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát thường được chẩn đoán bằng các phương pháp: (1)
Xét nghiệm quan trọng nhất để chẩn đoán tràn khí ở màng phổi là chụp X-quang ngực. Trong hầu hết các trường hợp, phương pháp này thường đủ để thấy phổi bị xẹp. Chụp X-Quang giúp bác sĩ quan sát rõ những bất thường ở khoang màng phổi và những bộ phận khác ở phổi.
Ngoài chụp X-quang thì đôi khi bác sĩ có thể chỉ định chụp CT để đánh giá chi tiết hơn về tình trạng tràn khí màng phổi, hoặc nếu bác sĩ không chắc chắn dựa trên phim X-quang ngực của người bệnh.
Tuy nhiên, nếu chụp cắt lớp vi tính ở thời điểm phổi vẫn còn xẹp do bị khí chèn ép sẽ không thấy được thương tổn ở nhu mô phổi. Vì vậy, chỉ nên chụp CT sau khi đã chọc hút hay dẫn lưu khí khoang màng phổi.
Theo đó, chụp CT cho phép ghi lại hình chiếu từng lớp mặt cắt của tổ chức phổi. Dựa vào mức tỷ trọng khác nhau giữa tổ chức phổi lành, phần bị bệnh (bóng khí, tổn thương lao, ổ áp xe, khối u, giãn phế quản, dày dính) mà có thể xác định được các chi tiết về: vị trí, mức độ tổn thương, mức độ chèn đẩy phổi, trung thất. Ngoài ra, các hình ảnh trên phim chụp cắt lớp vi tính cũng gợi ý cho bác sĩ trong việc xác định nguyên nhân gây ra tràn khí ở màng phổi.

Siêu âm cũng là phương pháp chẩn đoán giúp phát hiện tràn khí tại màng phổi. Thông qua hình ảnh siêu âm, bác sĩ có thể quan sát rõ lồng ngực và những bất thường ở vị trí ngực nếu có. Bên cạnh đó, siêu âm giúp loại trừ một số trường hợp liên quan tới phổi.
Nội soi màng phổi cũng là một dạng siêu âm nhưng không sử dụng tia X, mà sử dụng ống soi kim loại và hệ thống đèn chiếu sáng quan sát hình ảnh của phổi và màng phổi qua một đường rạch ở khoang gian sườn. Qua hình ảnh chi tiết này có thể giúp bác sĩ xem xét kích thước và vị trí của khí trong màng phổi.
Phương pháp điều trị khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát sẽ bắt đầu từ việc theo dõi tiến triển cho đến việc can thiệp thủ thuật hoặc phẫu thuật. Cụ thể như sau: (2)
Với những trường hợp tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát mức độ nhẹ có thể được chỉ định theo dõi tiến triển trong khoảng thời gian nhất định và chưa cần can thiệp điều trị ngay lập tức.
Chọc hút màng phổi là một thủ thuật không quá phức tạp. Một ống nhỏ được đưa vòng lồng ngực sau khi đã được gây tê tại chỗ. Lúc này không khí trong khoang màng phổi sẽ được dẫn lưu ra ngoài thông qua một xi lanh. Thủ thuật kéo dài khoảng 30 phút. Sau khi rút ống, bác sĩ sẽ tiếp tục chụp x-quang để kiểm tra tổng thể sau thủ thuật. Nếu không có gì bất thường, người bệnh sẽ được đưa về phòng hậu phẫu để nghỉ ngơi.
Dẫn lưu màng phổi là thủ thuật đưa một ống thông vào lồng ngực để dẫn khí ra khỏi khoang màng phổi. Người bệnh được gây tê tại chỗ, sử dụng thuốc giảm đau hoặc giảm lo lắng nếu người bệnh căng thẳng. Ống dẫn lưu được lựa chọn với kích thước nhỏ, sau khi đưa vào, ống dẫn lưu được cố định bằng một mũi khâu nhỏ và nối vào một ống thông chống thấm nước, hoặc một van. Cả hai cho phép khí đi ra nhưng không quay trở lại khoang màng phổi, tạo điều kiện cho phổi giãn nở trở lại.
Nếu như trước đây phẫu thuật ngực thường là khâu kén khí, kèm làm dính màng phổi. Tuy nhiên, phương pháp này hồi phục lâu, người bệnh phải nằm viện dài. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, phẫu thuật nội soi khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát ra đời đã giúp điều trị trở nên đơn giản hơn, hạn chế xâm lấn, mang lại hiệu quả cao, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian hậu phẫu.

Sau khi điều trị khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát bệnh có thể tái phát với tỷ lệ chiếm khoảng 30%. Nguyên nhân tái phát có thể do ảnh hưởng từ thói quen xấu, lối sống không lành mạnh của người bệnh như lạm dụng thuốc lá, uống rượu bia, giảm cân, cơ thể gầy gò, ốm yếu…
Các cách phòng ngừa tràn khí màng phổi tự phát tái phát thường bao gồm:
Cách phòng ngừa bệnh:
Khi điều trị khí tràn màng phổi tự phát nguyên phát có thể gặp các rủi ro như:
Các biến chứng trên thường khá nghiêm trọng và cần được xử lý điều trị ngay khi phát hiện.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát là một trong những bệnh về phổi liên quan đến bóng khí blebs vỡ ra và giải phóng khí vào khoang màng phổi. Người bệnh có thể đối mặt với nhiều biến chứng, rò rỉ khí, tắc phế quản phổi treo… Do đó, ngay khi phát hiện các dấu hiệu sớm của bệnh, người bệnh nên đến bệnh viện để được bác sĩ thăm khám và điều trị sớm nhất.