“Cập nhật hướng dẫn hiện tại và cá thể hóa điều trị từ lý thuyết đến thực tiễn” là buổi sinh hoạt khoa học được phối hợp tổ chức bởi Viện Nghiên cứu Tâm Anh và Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Trung tâm Tai Mũi Họng, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật nội soi tiêu hóa, diễn ra vào ngày 19/3 vừa qua.

Mở đầu chương trình, PGS.TS.BS Trần Quang Bính, Giám đốc Chuyên môn Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, chương trình hướng tới mục tiêu cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị mới nhất các bệnh lý thường gặp thuộc 3 chuyên ngành liên quan, như trào ngược dạ dày – thực quản, loãng xương và viêm tai mũi họng, nhằm tối ưu hiệu quả điều trị cho người bệnh.

Mở đầu buổi sinh hoạt, TS.BS.CKII Lê Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM trình bày bài báo cáo chủ đề “Quản lý loãng xương dài hạn: Cân bằng giữa hiệu quả và sự gắn kết”.

Bác sĩ Tuấn dẫn thống kê, thế giới có 200 triệu phụ nữ bị loãng xương. Trong 5 người loãng xương chỉ có 1 người được chẩn đoán; cứ 3 người loãng xương chỉ có 1 người được điều trị và ít hơn 50% người bệnh kiên trì điều trị trên 6 tháng. Theo Thống kê của Hiệp hội loãng xương quốc tế (IOF), ở người trên 50 tuổi, cứ 3 phụ nữ thì có 1 người bị loãng xương và tỷ lệ này ở nam giới là 1 trong 5. Tại Việt Nam, người trên 50 tuổi gãy xương do loãng xương liên tục tăng từ 2009 đến 2025 và sẽ tiếp tục tăng đến năm 2050. Điều này kéo theo chi phí điều trị tăng cao. Chưa kể, sau bất kỳ gãy xương do loãng xương, 10% gãy xương lại sau 1 năm.
Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương là dựa vào T-Score (kỹ thuật DEXA, đo tại cột sống thắt lưng và/hoặc cổ xương đùi). Tuy nhiên, trên thực tế, nếu không đo được mật độ xương, vẫn có thể chẩn đoán loãng xương ở người hơn 50 tuổi có gãy xương sau chấn thương nhẹ (bao gồm cả gãy lún đốt sống) và loại trừ gãy xương bệnh lý. Điều trị gãy xương do loãng xương gồm điều trị gãy xương, điều trị loãng xương, giáo dục bệnh nhân, và phục hồi chức năng cá thể hóa.
Thực tế lâm sàng ghi nhận tình trạng người bệnh không tuân thủ điều trị. 70% người bệnh ngừng sử dụng thuốc trong vòng 1 năm, 50% người bệnh trong số này ngừng thuốc chỉ trong vòng 6 tháng đầu. 50- 60% người bệnh ngưng điều trị vì “cảm thấy bệnh đã đỡ” và chỉ 5-10% người bệnh ngưng điều trị lời khuyên/ y lệnh của bác sĩ.

Bác sĩ Tuấn cho biết, mô hình “high touch” với lịch tiêm 3 tháng/lần là “điểm cân bằng vàng” vì đủ xa để tiện lợi hơn uống hàng ngày/hàng tuần/hàng tháng và đủ gần để đảm bảo tái khám, theo dõi creatinine, củng cố tư vấn. Thời điểm này cũng tích hợp với lịch tái khám của các bệnh đồng mắc mạn tính khác ở người lớn tuổi (đái tháo đường, tim mạch, suy thận, mỡ máu…)
Bác sĩ cũng đề cập đến mô hình Quản lý bệnh nhân gãy xương do loãng xương FLS (Fracture Liaison Service). Đây là mô hình khép kín, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình, Nội cơ xương khớp, Phục hồi chức năng, Vật lý trị liệu, Nội tiết, Lão khoa, Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Dược… đến dịch vụ Chăm sóc khách hàng, Tổng đài. Đội ngũ điều phối viên kết nối 1-1, trực tiếp đồng hành nhắc lịch, giải đáp chuyên môn và đảm bảo người bệnh tuân thủ phác đồ điều trị lâu dài. Mục tiêu hướng đến giúp người bệnh phòng ngừa gãy xương thứ phát, lấp đầy khoảng trống điều trị gãy xương loãng xương, giảm nguy cơ loãng xương trong tương lai.
“Mô hình giúp giảm 25% ca gãy xương đùi trong tương lai. Cứ 1000 bệnh nhân được tham gia vào mô hình FLS thì 18 ca gãy sẽ được ngăn chặn”, bác sĩ Tuấn nói.
Viêm là phản ứng sinh học của cơ thể chống lại tác nhân gây viêm như vi sinh vật, tác nhân hóa học, vật lý hoặc tác nhân bên trong (hoại tử mô, bệnh tự miễn…), với các triệu chứng: sưng, nóng, đỏ đau.
Đây là nỗ lực tự bảo vệ của cơ thể nhằm loại bỏ các tác nhân gây hại và tạo điều kiện cho quá trình chữa lành tổn thương. Tuy nhiên, viêm quá lâu sẽ gây viêm mạn tính khi phản ứng viêm còn tồn tại dù các yếu tố gây viêm nguyên phát đã được loại bỏ. Vòng xoáy bệnh lý viêm là phản ứng viêm, gây phù nề, tắc nghẽn, ứ đọng rồi lại viêm.
Đó là thông tin GS.TS.BS Trần Phan Chung Thủy, Giám đốc Trung tâm Tai Mũi Họng, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM chia sẻ tại chương trình khi báo cáo chủ đề “Giải mã lựa chọn kháng viêm trong tai mũi họng: tiếp cận cá thể hoá điều trị phù nề”.

Các bệnh lý tai mũi họng thường gặp là viêm mũi xoang cấp, mạn; viêm họng, viêm amidan cấp; viêm thanh quản cấp, mạn; viêm tai giữa cấp, mạn. Khi điều trị viêm, vai trò của thuốc kháng viêm là giúp bảo vệ các tác động có lợi của viêm, chống phù nề, hỗ trợ kháng sinh. Tuy nhiên, dùng thuốc kháng viêm cần đúng chỉ định, phù hợp nhóm tuổi, hạn chế tác dụng phụ.
Thuốc kháng viêm gồm Glucocorticoids (Steroids), NSAIDs và thuốc kháng viêm dạng men. Trong đó, Corticosteroids kháng viêm mạnh, tác dụng nhanh chóng, tác dụng toàn thân thông qua việc ức chế phản ứng viêm của cơ thể, ức chế các yếu tố làm tăng trưởng mô, ức chế sự lành thương. Nếu sử dụng dài ngày, liều cao có nguy cơ gây hại cho cơ thể: phù nề, hội chứng Cushing, loét dạ dày tá tràng, ảnh hưởng tới hệ miễn dịch và tăng nguy cơ nhiễm trùng, loãng xương…
“Thực tế lâm sàng ghi nhận nhiều bệnh nhân đến khám khi đã dùng Corticoids kéo dài gây hội chứng Cushing, suy tuyến thượng thận”, GS Chung Thủy nói.
Thuốc kháng viêm NSAIDs giúp giảm tổng hợp các chất trung gian gây viêm, giảm đau, hạ sốt, và chống viêm; giảm kết tập tiểu cầu. Tuy nhiên, NSAIDs có thể tác dụng phụ trên tiêu hóa và thận gây loét dạ dày, chảy máu dạ dày, đau bụng…

Với thuốc kháng viêm dạng men, men Protease tác động trực tiếp đến cục máu đông nhỏ và hình thành fibrin, làm ly giải fibrin và khai thông các mạch máu bị bít tắc, giúp tái lập tuần hoàn, làm nhanh quá trình sửa chữa. Thuốc cũng giúp tăng thoát dịch, giảm sưng nề và đau, giảm các interleukin gây viêm, làm bình thường hóa nội môi cytokine, bảo vệ quá trình lành thương. Tuy nhiên, vẫn có nguy cơ xảy ra dị ứng, tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn. “Ghi nhận trên lâm sàng, người bệnh ít gặp những tác dụng phụ này”, GS Chung Thủy nói.
GS Chung Thủy kết luận, thuốc kháng viêm giúp giải quyết được các triệu chứng của viêm do tổn thương mô và có tác dụng giảm đau, chữa lành vết thương. Tuy nhiên cần xem xét cẩn thận giữa hiệu quả và tác dụng phụ của thuốc kháng viêm.
“Thách thức GERD kháng trị: tối ưu hóa PPI và các cân nhắc quan trọng trong quá trình điều trị” là chủ đề bài báo cáo của bác sĩ CKII Lê Thanh Quỳnh Ngân, Trưởng khoa Nội tiêu hóa, kiêm Trưởng Trung tâm Viêm gan và Gan nhiễm mỡ, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM.
Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là tình trạng chất trong dạ dày trào ngược gây triệu chứng khó chịu và/hoặc gây biến chứng, triệu chứng tại thực quản và ngoài thực quản. Triệu chứng ngoài thực quản có liên quan đến các bệnh tai mũi họng như viêm họng, viêm xoang, viêm tai giữa tái đi tái lại. “Các triệu chứng họng thanh quản có thể có mối liên quan GERD nhưng cần thận trọng khi không đi cùng triệu chứng tại thực quản”, bác sĩ Ngân nói.

Về chẩn đoán bệnh, phải có bằng chứng rõ ràng về tổn thương do trào ngược trên nội soi và/hoặc kết quả theo dõi trào ngược bất thường, kèm với các triệu chứng phù hợp.
Các phương pháp chẩn đoán trào ngược dạ dày thực quản như GERD – Q, PPI test, nội soi, pH trở kháng, pH không dây, trở kháng niêm mạc thực quản hiện đang được áp dụng thường quy tại Bệnh viện Tâm Anh. Trong đó phương pháp chẩn đoán pH không dây được Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh triển khai lần đầu tiên tại TP HCM, hiện vẫn đang áp dụng trong chẩn đoán bệnh.

Với nhóm 40% bệnh nhân không đáp ứng thuốc PPI thông thường, bác sĩ Quỳnh Ngân cho biết Bệnh viện Tâm Anh TP.HCM ứng dụng hệ thống đo pH – trở kháng thực quản 24 giờ và đo áp lực, nhu động thực quản độ phân giải cao (HRM) để tìm đúng nguyên nhân gốc rễ. Khi xác định đúng, bác sĩ sẽ xây dựng phác đồ riêng biệt, ưu tiên các dòng thuốc có diện tích dưới đường cong (AUC) cao. Giải pháp này giúp kiểm soát axit ổn định xuyên suốt, cắt nhanh triệu chứng trào ngược cả ngày lẫn đêm, giúp người bệnh ăn ngon, ngủ yên giấc.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH