Tình trạng men gan cao ở trẻ em thường được phát hiện trong xét nghiệm máu thường quy. Chỉ số men gan cao ở trẻ có thể là dấu hiệu cảnh báo gan bị tổn thương, viêm, kích ứng… Vậy biểu hiện là gì, có nguy hiểm không?

Men gan cao ở trẻ em là tình trạng gia tăng nồng độ enzyme alanine aminotransferase (ALT) và aspartate aminotransferase (AST). Enzyme là các chất giúp làm tăng tốc các phản ứng hóa học. Cơ thể con người có hàng nghìn enzyme. Mỗi ngày, các enzyme này thực hiện nhiều chức năng thiết yếu cho sự sống. Hai trong số các enzyme này là aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT). Chúng còn được gọi là transaminase. Trẻ em có một lượng nhỏ AST và ALT trong máu là bình thường. ALT chủ yếu được tìm thấy ở gan. AST được tìm thấy ở nhiều cơ quan, bao gồm tuyến tụy, gan, tim, cơ, não. Dù AST và ALT thường được gọi là enzyme gan nhưng không phải lúc nào chúng cũng đến từ gan.
Bác sĩ có thể chỉ định thực hiện xét nghiệm những loại enzyme gan khác trong máu như gamma-glutamyltransferase (GGT) hoặc phosphatase kiềm (AP). Nhưng xét nghiệm bệnh gan ở trẻ em thường được áp dụng là xét nghiệm enzyme AST và ALT. Nồng độ men gan gia tăng (quá cao) là dấu hiệu cảnh báo có thể đang xuất hiện vấn đề gì đó gây hại cho gan. Điều này có thể xảy ra do nhiều lý do, có thể cần thực hiện thêm xét nghiệm để tìm nguyên nhân chính xác.
Một số nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng tăng men gan ở trẻ em bao gồm:
Đa phần tình trạng men gan cao ở trẻ em là do các vấn đề sức khỏe, bệnh lý không quá nguy hiểm, dễ điều trị, có thể bao gồm: (1)

Ít khi tình trạng tăng men gan cao ở trẻ em xảy ra do vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đe dọa tính mạng, có thể bao gồm:
Nhiều ca bệnh gan ở trẻ em không biểu hiện triệu chứng rõ ràng, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Men gan tăng cao thường là dấu hiệu đầu tiên cảnh báo bệnh gan ở trẻ em. Khi những triệu chứng xuất hiện, chúng có thể bao gồm:

Tình trạng men gan cao có thể được phát hiện thông qua việc xét nghiệm máu khi trẻ được khám sức khỏe định kỳ hàng năm. Bác sĩ cũng có thể chỉ định thực hiện xét nghiệm men gan cao khi trẻ có biểu hiện không khỏe, đặc biệt là khi trẻ bị đau bụng, tiêu chảy hoặc vàng da (da hoặc mắt có màu vàng), nôn mửa,..
Chỉ riêng nồng độ men gan không đủ để xác định chính xác bệnh lý, vấn đề sức khỏe ở gan. Vì vậy, trẻ cần được bác sĩ thăm khám, theo dõi sức khỏe. Nếu phát hiện nồng độ men gan cao ở trẻ em, cần thực hiện thêm một số xét nghiệm để xác định nguyên nhân.
Nguyên nhân gây tăng men gan đôi khi khá rõ ràng. Ví dụ, bác sĩ có thể chẩn đoán tình trạng tăng men gan là do virus. Ở những trường hợp này, bác sĩ có thể muốn theo dõi thêm. Khi bệnh thuyên giảm, men gan sẽ quay trở lại định mức bình thường.
Một số trường hợp nguyên nhân tăng men gan chưa được xác định, trẻ có thể được bác sĩ chuyên khoa (về gan mật) thăm khám, chẩn đoán.
Bác sĩ chuyên khoa bắt đầu bằng việc khai thác bệnh sử, khám lâm sàng để kiểm tra những dấu hiệu bên ngoài của bệnh gan, có thể bao gồm vàng da, gan hoặc lách to. Nếu trẻ có nguy cơ mắc bệnh gan, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện các xét nghiệm bổ sung như:
Sau khi thực hiện các xét nghiệm cần thiết, bác sĩ có thể “phác họa” toàn diện hơn về tình trạng gan của trẻ, qua đó có thể đề ra chẩn đoán chính xác.

Ở nhiều trường hợp, tình trạng gia tăng AST và ALT chỉ là tạm thời, không phải dấu hiệu cảnh báo bệnh lý nghiêm trọng. Thế nhưng, nếu tình trạng tăng men gan kéo dài thì cần được đánh giá, thực hiện thêm xét nghiệm. Việc tăng AST và ALT từ 1,5 đến 2 lần giới hạn trên của mức bình thường có thể cần được đánh giá cẩn thận.
Các biến chứng có thể xảy ra do tăng men gan còn tùy vào nguyên nhân. Hầu hết các trường hợp tăng men gan ở trẻ em không dẫn đến biến chứng. Ở một số trường hợp ít gặp, trẻ em mắc bệnh gan mức độ nặng có thể gặp những biến chứng như: xơ gan, vàng da ứ mật, tràn dịch màng bụng (cổ trướng), suy tế bào gan, nặng hơn có thể gây hôn mê gan.
Điều trị tăng men gan ở trẻ còn phụ thuộc vào nguyên nhân. Tình trạng tăng men gan thường tự khỏi mà không cần chữa trị. Ví dụ, nếu trẻ bị nhiễm virus, nồng độ men gan có thể gia tăng trong khoảng 1 – 2 tuần. Nồng độ men gan thường trở lại định mức bình thường khi virus biến mất.
Những phương pháp điều trị đơn giản có thể giúp ích trong những trường hợp khác. Ví dụ, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD): giảm cân thường là phương pháp chữa trị chính. Nồng độ men gan và những triệu chứng khác của NAFLD thường cải thiện khi trẻ giảm cân.
Nếu nguyên nhân men gan tăng cao ở trẻ nghiêm trọng hơn, phác đồ điều trị có thể bao gồm: thuốc, phẫu thuật, các thủ thuật y tế khác…
Để chủ động phòng ngừa tình trạng men gan cao ở trẻ em, có thể áp dụng một số biện pháp như:

Trẻ có men gan tăng cao cần được bác sĩ thăm khám, chẩn đoán, điều trị (khi cần). Bác sĩ cũng có thể hướng dẫn cho phụ huynh cách thiết lập chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp với tình trạng sức khỏe của trẻ, bao gồm:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, tình trạng men gan cao ở trẻ em cần được bác sĩ chẩn đoán, theo dõi, điều trị (nếu cần) nhằm đảm bảo trẻ có sức khỏe tốt, tránh gặp biến chứng nguy hiểm. Ngay khi gặp dấu hiệu phụ huynh nên đưa trẻ đến cơ sở y tế uy tín thăm khám.