Béo phì và đái tháo đường làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ, đồng thời thúc đẩy viêm gan, xơ hóa dẫn đến tử vong do ung thư gan và các bệnh tim mạch.

Các chuyên gia cho biết thông tin trên trong Hội thảo khoa học “Béo phì và bệnh lý gan nhiễm mỡ” diễn ra tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM chiều ngày 16/12.

ThS.BS.CKI Hà Thị Ngọc Bích, khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết gan nhiễm mỡ ảnh hưởng khoảng 24% dân số toàn cầu. Đặc biệt những người mắc bệnh rối loạn chuyển hóa như béo phì và đái tháo đường type 2 có nguy cơ bị gan nhiễm mỡ cao hơn, đây được gọi là bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD), và có thể dẫn đến viêm gan nhiễm mỡ liên quan tới rối loạn chuyển hóa (MASH).
Cụ thể, có đến 66% bệnh nhân đái tháo đường type 2 mắc gan nhiễm mỡ (tức cứ 3 người thì có 2 người bị); và cứ 3 bệnh nhân béo phì thì có 1 người có gan nhiễm mỡ. “Béo phì và đái tháo đường không chỉ làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ mà còn thúc đẩy viêm gan nhiễm mỡ và xơ hóa gan dẫn đến ung thư gan”, bác sĩ Bích nói.

ThS.BS.CKII Lê Thanh Quỳnh Ngân, Trưởng khoa Nội tiêu hóa, Trưởng Trung tâm Viêm gan và Gan nhiễm mỡ, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, tình trạng xơ gan, ung thư gan liên quan chặt chẽ đến gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa và viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C. Trong đó, gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa đã trở thành vấn đề y tế toàn cầu. Rối loạn chuyển hóa vừa là bệnh học, vừa là hậu quả của gan nhiễm mỡ.
Gan nhiễm mỡ không chỉ ảnh hưởng đến các bệnh lý về gan mà còn ảnh hưởng đến tim mạch, bệnh thận mạn, đái tháo đường type 2, ung thư ngoài tiêu hóa, ung thư đường tiêu hóa ngoài gan.
Tiêu chuẩn để đánh giá gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa là tình trạng mỡ trong gan đi kèm một trong các yếu tố như béo phì, đái tháo đường type 2, huyết áp cao, rối loạn lipid máu… Đây cũng là các yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng gan nhiễm mỡ.
Theo bác sĩ Ngân, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C và gan nhiễm mỡ là các bệnh lý mạn tính thường xuyên đồng mắc, tương tác phức tạp lẫn nhau. Với viêm gan siêu vi B, gan nhiễm mỡ thúc đẩy virus phát triển, làm nặng thêm tình trạng viêm và xơ hóa gan; virus viêm gan siêu vi B tác động làm gia tăng tình trạng gan nhiễm mỡ. Đồng nhiễm viêm gan siêu vi B và gan nhiễm mỡ làm tăng nguy cơ xơ hóa và ung thư gan 1,4-2 lần.

Với viêm gan siêu vi C, 40-70% người mắc bệnh có gan nhiễm mỡ, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ liên quan đến bất thường chuyển hóa. Adipokine từ mô mỡ liên quan đến khởi phát tổn thương gan do gan nhiễm mỡ, việc tăng sinh tế bào mỡ dẫn đến tăng leptin máu và kháng leptin, gây ra phản ứng viêm tại mô mỡ và toàn thân, thúc đẩy tình trạng xơ gan, ung thư gan. Người mắc viêm gan siêu vi C và gan nhiễm mỡ khi chưa điều trị hoặc đã xơ gan có nguy cơ ung thư gan là 1-4%/năm. Kể cả đối với những bệnh nhân đã điều trị viêm gan siêu vi C, nguy cơ ung thư gan hoặc tiến triển thành ung thư gan cũng ở mức rất cao. Đồng nhiễm viêm gan siêu vi C và gan nhiễm mỡ làm tăng nguy cơ ung thư gan cả trước và sau khi điều trị.
Các nghiên cứu cho thấy, gan nhiễm mỡ có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan nhưng nguyên nhân tử vong hàng đầu ở những bệnh nhân gan nhiễm mỡ là tim mạch, tiếp theo là bệnh ác tính ngoài gan. Bệnh nhân mắc gan nhiễm mỡ không do rượu có nguy cơ mắc ung thư cao hơn 2 lần so với dân số nói chung, đặc biệt là các bệnh ung thư liên quan đến gan, đường tiêu hóa và tử cung.
Bác sĩ Bích cho biết, điều trị gan nhiễm mỡ không chỉ nhằm vào gan mà còn cải thiện các vấn đề rối loạn chuyển hóa, giảm biến cố tim mạch, biến cố trên gan. Kiểm soát đái tháo đường type 2, béo phì và các rối loạn chuyển hóa là yếu tố quan trọng nhằm giảm nguy cơ ung thư gan và biến chứng. Thay đổi lối sống là nền tảng bắt buộc cho mọi bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ, như giảm năng lượng nạp vào khoảng 500-1000 kcal mỗi ngày, kết hợp tập luyện thể lực đều đặn.
Bác sĩ dẫn một nghiên cứu cho thấy, khi giảm 5% cân nặng, tình trạng gan nhiễm mỡ và một phần viêm bắt đầu có cải thiện. Ở mức 7%, khả năng hết gan nhiễm mỡ tăng lên 64%, và xơ hóa thoái lui 50%. Đặc biệt, khi giảm trên 10% cân nặng, 90% bệnh nhân đạt lui bệnh viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, 81% cải thiện xơ hóa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, rất khó duy trì điều trị chỉ bằng lối sống.
Các chuyên gia cho biết, việc điều trị bằng thuốc được chỉ định khi thay đổi lối sống không đủ hiệu quả hoặc bệnh nhân đã có viêm, xơ hóa gan. Cuối cùng phẫu thuật – chủ yếu là phẫu thuật giảm cân – được cân nhắc ở bệnh nhân béo phì nặng, và ghép gan dành cho các trường hợp xơ gan mất bù hoặc ung thư gan. Như vậy, điều trị gan nhiễm mỡ, viêm gan cần tiếp cận đa mô thức, cá thể hóa và mang tính liên chuyên khoa, bác sĩ Bích nhấn mạnh.
Ngoài các loại thuốc điều trị truyền thống, thuốc GLP-1 RA và các thuốc incretin kép đóng vai trò trung tâm, tác động lên đa cơ quan giúp giảm tổng hợp lipid tại gan, tăng oxy hóa acid béo, giảm cân, cải thiện đề kháng insulin, giảm viêm và stress oxy hóa đồng thời giảm nguy cơ tim mạch – những cơ chế cốt lõi của gan nhiễm mỡ.