Ticagrelor là thuốc kháng kết tập tiểu cầu được sử dụng rộng rãi trong điều trị hội chứng mạch vành cấp và sau can thiệp mạch vành nhằm giảm nguy cơ hình thành cục máu đông đe dọa tính mạng. Nhờ cơ chế ức chế thụ thể P2Y12 mạnh và khởi phát nhanh, hoạt chất này thường được ưu tiên hơn so với các thuốc thế hệ cũ. Hiểu rõ chỉ định, liều dùng và tác dụng phụ sẽ giúp bác sĩ và người bệnh sử dụng an toàn, tối ưu hiệu quả điều trị.

Ticagrelor là một loại thuốc thuốc ức chế tập kết tiểu cầu, hoạt động bằng cách đối kháng với thụ thể P2Y12. Thuốc có tác dụng ngăn tiểu cầu kết dính vào nhau, từ đó góp phần giảm nguy cơ hình thành cục máu đông, hỗ trợ phòng ngừa nhồi máu cơ tim, đột quỵ.
![]() |
|
| Tên khác | AZD-6140 |
| Tên thương mại (Common Brand Name) | Brilinta, Brilique |
| Tên gọi chung (Common Generic Name) | Ticagrelor |
| Nhóm thuốc (Drug Classes) | Thuốc chống kết tập tiểu cầu |
| Danh mục (Availability) | Thuốc kê đơn |
| Dạng bào chế | Viên nén bao phim 60mg, 90mg; viên nén tan trong miệng 90mg |
| Cách sử dụng | Uống trực tiếp |
| MedlinePlus | a611050 |
| Công thức hóa học | C₂₃H₂₈F₂N₆O₄S |
| Khối lượng phân tử | 522.57 g·mol−1 |
| Danh mục cho thai kỳ | |
| ID CAS | 274693-27-5 |
| Mã ATC | B01AC24 |
Ticagrelor thuộc nhóm cyclopentyltriazolopyrimidine (CPTP), đối kháng thụ thể P2Y12. Đây là thụ thể nhận diện chất ADP (adenosine diphosphate) – một chất trung gian có khả năng kích hoạt tiểu cầu. Khi ADP gắn vào thụ thể P2Y12, nó sẽ kích hoạt tiểu cầu kết dính lại với nhau, hình thành cục máu đông. Ticagrelor liên kết thuận nghịch vào thụ thể P2Y12 này, khiến ADP không thể kích hoạt tiểu cầu được. Từ đó, quá trình hoạt hóa và tập kết tiểu cầu bị ngăn chặn, giảm nguy cơ tử vong, nhồi máu cơ tim, đột quỵ.
Tóm lại, cơ chế tác dụng của thuốc là không cạnh tranh trực tiếp với ADP tại vị trí gắn, mà ngăn chặn quá trình truyền tín hiệu sau khi ADP đã gắn vào thụ thể.
Đáng chú ý, Ticagrelor cũng làm tăng adenosine nội sinh cục bộ do ức chế chất vận chuyển nucleoside cân bằng. Điều này dẫn đến các tác dụng của adenosine như giãn mạch (tăng lưu lượng máu mạch vành, nhức đầu), khó thở nhẹ. Các tác dụng phụ này đã được ghi nhận ở người khỏe mạnh và cả người mắc hội chứng vành cấp (ACS).
Ticagrelor được dùng để hỗ trợ phòng ngừa nhồi máu cơ tim, đột quỵ do biến cố tim mạch ở những người có nguy cơ cao.
Ticagrelor được hấp thu nhanh sau khi uống, thời gian đạt nồng độ tối đa (tmax) trung bình khoảng 1,5 giờ. Chất chuyển hóa chính của thuốc là AR-C124910XX, đạt tmax trung bình khoảng 2,5 giờ.
Sau khi dùng liều đơn 90mg, nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) đạt khoảng 529 ng/ml, diện tích dưới đường cong (AUC) là 3451 ng giờ/ml. So với Ticagrelor, chất chuyển hóa chính chiếm 28% Cmax và 42% AUC.
Ở người bệnh có tiền sử nhồi máu cơ tim, dược động học của Ticagrelor và chất chuyển hóa không khác biệt nhiều so với người mắc hội chứng mạch vành cấp. Với liều 60mg, Cmax trung bình là 391 ng/ml, AUC là 3801 ng·giờ/ml. Với liều 90 mg, Cmax đạt 627 ng/ml, AUC là 6255 ng·giờ/ml khi ở trạng thái ổn định.
Ticagrelor có sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 36%. Ăn nhiều chất béo làm tăng nhẹ AUC của thuốc khoảng 21%, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến Cmax. Ngược lại, Cmax của chất chuyển hóa có thể giảm 22%, nhưng tổng mức phơi nhiễm (AUC) không thay đổi đáng kể.
Ticagrelor có thể dùng cùng hoặc không cùng thức ăn. Ticagrelor và chất chuyển hóa đều là chất nền của P-glycoprotein (P-gp).
Nghiền thuốc trộn với nước rồi uống hoặc bơm qua ống thông dạ dày cho sinh khả dụng tương đương với uống viên nguyên vẹn. Tuy nhiên, nồng độ thuốc trong máu trong 0,5 – 1 giờ đầu ở dạng viên nén cao hơn ở dạng nghiền.
Ticagrelor phân bố rộng trong cơ thể với thể tích phân bố khoảng 87,5 lít. Ticagrelor và chất chuyển hóa đều liên kết mạnh với protein huyết tương (>99%).
Ticagrelor được chuyển hóa chủ yếu qua enzym CYP3A4, tạo ra chất chuyển hóa AR-C124910XX vẫn còn hoạt tính và có khả năng ức chế thụ thể P2Y12 của tiểu cầu. Mức độ phơi nhiễm toàn thân của chất chuyển hóa này bằng 30 – 40% so với Ticagrelor.
Thuốc được thải trừ chủ yếu qua gan. Khoảng 58% thải qua phân, 27% qua nước tiểu. Chất chuyển hóa chủ yếu được bài tiết qua mật.
Thời gian bán thải trung bình (t1/2) của Ticagrelor là 7 giờ, của chất chuyển hóa là 8,5 giờ.
Ticagrelor có thể được bác sĩ chỉ định trong các trường hợp:

Chống chỉ định Ticagrelor cho các trường hợp sau:
Ticagrelor có dạng viên nén với hai hàm lượng: 60mg và 90mg.
Lưu ý:
Nuốt nguyên viên Ticagrelor với nước. Nếu người bệnh khó nuốt, có thể nghiền nát thành bột mịn, hòa tan với nước lọc, uống ngay sau khi pha. Sau đó, cần tráng lại cốc bằng một ít nước và uống hết để đảm bảo sử dụng đủ liều. Nếu người bệnh có đặt ống thông mũi – dạ dày (NG tube), bác sĩ sẽ hướng dẫn cách pha và đưa thuốc qua ống thông sao cho an toàn nhất.

Dùng quá liều Ticagrelor có thể làm tăng nguy cơ chảy máu, nhịp tim chậm, huyết áp giảm. Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, cần đưa người bệnh đến bệnh viện ngay lập tức để bác sĩ theo dõi điện tâm đồ và có biện pháp xử lý kịp thời.
Nếu quên uống 1 liều, hãy uống ngay khi nhớ ra. Nhưng nếu đã gần đến thời điểm uống liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều tiếp theo như bình thường. Không dùng 2 liều cùng một lúc để bù cho liều đã quên.
Khi sử dụng thuốc, người bệnh có thể gặp các tác dụng không mong muốn, gồm:
Ticagrelor có thể tương tác với nhiều thuốc và một số loại thực phẩm, đồ uống. Cụ thể:
Uống lượng lớn nước bưởi chùm (≥600ml) có thể làm tăng gấp đôi nồng độ Ticagrelor trong máu. Người bệnh nên tránh hoặc hạn chế sử dụng nước bưởi chùm trong thời gian điều trị.
Bảo quản thuốc ở nhiệt độ phòng (dưới 30°C). Tránh để thuốc ở nơi quá nóng hoặc quá lạnh. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Giữ thuốc xa tầm tay trẻ em.
Để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng không mong muốn, người bệnh cần đặc biệt thận trọng ở những điểm sau:

Ticagrelor chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được kê đơn và theo dõi bởi bác sĩ tim mạch giàu kinh nghiệm, đặc biệt ở bệnh nhân sau đặt stent hoặc có nguy cơ tái nhồi máu cơ tim. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, phác đồ sử dụng thuốc kháng kết tập tiểu cầu được cá thể hóa dựa trên mức độ nguy cơ chảy máu, bệnh lý nền và kết quả xét nghiệm chuyên sâu, giúp người bệnh vừa kiểm soát huyết khối hiệu quả, vừa hạn chế tác dụng phụ. Đặt lịch khám để được đánh giá lâm sàng toàn diện và xây dựng phác đồ tối ưu.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Ticagrelor là lựa chọn điều trị quan trọng trong phòng ngừa huyết khối ở bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp, nhưng việc sử dụng cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ chảy máu. Hoạt chất này có hiệu lực mạnh, khởi phát nhanh, song có thể gây khó thở, tăng nguy cơ xuất huyết và tương tác thuốc đáng kể. Người bệnh không nên tự ý dùng, tự điều chỉnh liều hoặc ngừng thuốc đột ngột mà không có hướng dẫn chuyên môn, đặc biệt trong giai đoạn sau can thiệp mạch vành.